Bước tới nội dung

U-772 (tàu ngầm Đức)

Tàu ngầm U-boat Type VIIC
Lịch sử
Đức Quốc Xã
Tên gọiU-772
Đặt hàng21 tháng 11, 1940
Xưởng đóng tàuKriegsmarinewerft, Wilhelmshaven
Số hiệu xưởng đóng tàu155
Đặt lườn21 tháng 9, 1942
Hạ thủy31 tháng 10, 1943
Nhập biên chế23 tháng 12, 1943
Tình trạngBị tàu frigate Anh HMS Nyasaland thả mìn sâu đánh chìm trong biển Celtic, 17 tháng 12, 1944 [1]
Đặc điểm khái quát
Lớp tàuTàu ngầm Type VIIC
Trọng tải choán nước
Chiều dài
  • 67,10 m (220 ft 2 in) (chung) [2]
  • 50,50 m (165 ft 8 in) (lườn áp lực) [2]
Sườn ngang
  • 6,20 m (20 ft 4 in) (chung) [2]
  • 4,70 m (15 ft 5 in) (lườn áp lực) [2]
Chiều cao9,60 m (31 ft 6 in) [2]
Mớn nước4,74 m (15 ft 7 in) [2]
Công suất lắp đặt
  • 2.800–3.200 PS (2.100–2.400 kW; 2.800–3.200 shp) (diesel) [2]
  • 750 PS (550 kW; 740 shp) (điện) [2]
Động cơ đẩy
Tốc độ
Tầm xa
  • 8.500 hải lý (15.700 km; 9.800 mi) ở tốc độ 10 hải lý trên giờ (19 km/h; 12 mph) (nổi) [2]
  • 80 hải lý (150 km; 92 mi) ở tốc độ 4 hải lý trên giờ (7,4 km/h; 4,6 mph) (lặn) [2]
Độ sâu thử nghiệm
  • 230 m (750 ft) [2]
  • 250–295 m (820–968 ft) (độ sâu ép vỡ tính toán)
Thủy thủ đoàn tối đa4 sĩ quan, 40-56 thủy thủ
Hệ thống cảm biến và xử lýGruppenhorchgerät
Vũ khí
  • 5 × ống phóng ngư lôi 53,3 cm (21 in) [2]
    • (4 × trước mũi, 1 × phía đuôi)
    • 14 × ngư lôi hoặc
    • 26 × mìn TMA hoặc
    • 39 × mìn TMB
  • 1 × Hải pháo 8,8 cm SK C/35, với 220 quả đạn [2]
  • 2 × pháo phòng không 2 cm (0,79 in) C/30 [2]
Thành tích phục vụ[1][3]
Một phần của:
  • Chi hạm đội U-boat 31
  • 23 tháng 12, 1943 – 31 tháng 7, 1944
  • Chi hạm đội U-boat 9
  • 1 tháng 8 – 14 tháng 10, 1944
  • Chi hạm đội U-boat 11
  • 15 tháng 10 – 17 tháng 12, 1944
Mã nhận diện:M 14 151
Chỉ huy:
  • Trung úy / Đại úy Ewald Rademacher
  • 23 tháng 12, 1943 – 17 tháng 12, 1944
Chiến dịch:
  • 2 chuyến tuần tra:
  • 1: 13 tháng 8 – 6 tháng 10, 1944
  • 2: 19 tháng 11 – 17 tháng 12, 1944
Chiến thắng:Không

U-772 là một tàu ngầm tấn công Lớp Type VII thuộc phân lớp Type VIIC được Hải quân Đức Quốc Xã chế tạo trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nhập biên chế năm 1943, nó chỉ thực hiện được hai chuyến tuần tra và không đánh chìm được mục tiêu nào. Trong chuyến tuần tra cuối cùng, U-767 bị tàu frigate HMS Nyasaland của Hải quân Hoàng gia Anh thả mìn sâu đánh chìm trong biển Celtic vào ngày 17 tháng 12, 1944.

Thiết kế và chế tạo

Thiết kế

Sơ đồ các mặt cắt một tàu ngầm Type VIIC

Phân lớp VIIC của Tàu ngầm Type VII là một phiên bản VIIB được kéo dài thêm. Chúng có trọng lượng choán nước 769 t (757 tấn Anh) khi nổi và 871 t (857 tấn Anh) khi lặn).[4] Con tàu có chiều dài chung 67,10 m (220 ft 2 in), lớp vỏ trong chịu áp lực dài 50,50 m (165 ft 8 in), mạn tàu rộng 6,20 m (20 ft 4 in), chiều cao 9,60 m (31 ft 6 in) và mớn nước 4,74 m (15 ft 7 in).[4]

Chúng trang bị hai động cơ diesel Germaniawerft F46 siêu tăng áp 6-xy lanh 4 thì, tổng công suất 2.800–3.200 PS (2.100–2.400 kW; 2.800–3.200 bhp), dẫn động hai trục chân vịt đường kính 1,23 m (4,0 ft), cho phép đạt tốc độ tối đa 17,7 kn (32,8 km/h), và tầm hoạt động tối đa 8.500 nmi (15.700 km) khi đi tốc độ đường trường 10 kn (19 km/h). Khi đi ngầm dưới nước, chúng sử dụng hai động cơ/máy phát điện Garbe, Lahmeyer & Co. RP 137/c tổng công suất 750 PS (550 kW; 740 shp). Tốc độ tối đa khi lặn là 7,6 kn (14,1 km/h), và tầm hoạt động 80 nmi (150 km) ở tốc độ 4 kn (7,4 km/h). Con tàu có khả năng lặn sâu đến 230 m (750 ft).[4]

Vũ khí trang bị có năm ống phóng ngư lôi 53,3 cm (21 in), bao gồm bốn ống trước mũi và một ống phía đuôi, và mang theo tổng cộng 14 quả ngư lôi, hoặc tối đa 22 quả thủy lôi TMA, hoặc 33 quả TMB. Tàu ngầm Type VIIC bố trí một hải pháo 8,8 cm SK C/35 cùng một pháo phòng không 2 cm (0,79 in) trên boong tàu. Thủy thủ đoàn bao gồm 4 sĩ quan và 40-56 thủy thủ.[4]

Chế tạo

U-772 được đặt hàng vào ngày 21 tháng 11, 1940,[1] và được đặt lườn tại xưởng tàu Kriegsmarinewerft ở Wilhelmshaven vào ngày 21 tháng 9, 1942.[1] Nó được hạ thủy vào ngày 31 tháng 10, 1943,[1] và nhập biên chế cùng Hải quân Đức Quốc Xã vào ngày 23 tháng 12, 1943[1] dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Trung úy Hải quân Ewald Rademacher.[1]

Lịch sử hoạt động

Sau khi hoàn tất việc huấn luyện trong thành phần Chi hạm đội U-boat 31, U-772 được điều sang Chi hạm đội U-boat 9 từ ngày 1 tháng 8, 1944 để hoạt động trên tuyến đầu.[1] Nó lại được điều sang Chi hạm đội U-boat 11 từ ngày 15 tháng 10, 1944 cho đến khi bị mất.[1]

Chuyến tuần tra thứ nhất

Vào đầu tháng 8, 1944, U-772 di chuyển từ cảng Kiel, Đức lần lượt đến các cảng HortenTrondheim cùng thuộc Na Uy,[3] rồi khởi hành từ Trohdheim vào ngày 13 tháng 8 cho chuyến tuần tra đầu tiên trong chiến tranh. Nó đã băng qua khe GI-UK giữa Iceland và quần đảo Faroe để vòng qua quần đảo Anh và hoạt động tại vùng biển Bắc Đại Tây Dương về phía Tây Ireland (Khu vực Tiếp cận phía Tây). Nó không đánh chìm được mục tiêu nào, và đã quay trở lại Trohdheim vào ngày 6 tháng 10.[5]

Chuyến tuần tra thứ hai – Bị mất

U-772 lại xuất phát từ Trohdheim vào ngày 19 tháng 11 cho chuyến tuần tra thứ hai, cũnglà chuyến cuối cùng. Nó tiếp tục băng qua khe GI-UK, nhưng theo lối giữa các quần đảo Shetland và Faroe, để vòng qua quần đảo Anh và hoạt động tại vùng biển Celtic về phía Nam Ireland.[6] Tại đây vào ngày 17 tháng 12, nó bị tàu frigate HMS Nyasaland của Hải quân Hoàng gia Anh thả mìn sâu đánh chìm ở vị trí về phía Nam Cork, Ireland, tại tọa độ 51°16′B 08°05′T / 51,267°B 8,083°T / 51.267; -8.083.[1] Toàn bộ 48 thành viên thủy thủ đoàn của U-772 đều đã tử trận.[1]

Trước đây có nguồn cho rằng U-772 bị một máy bay ném bom Vickers Wellington thuộc Liên đội 407 Không quân Hoàng gia Canada Đánh chìm trong eo biển Manche về phía Nam Weymouth, Dorset vào ngày 30 tháng 12, 1944. Cuộc tấn công này có thể đã nhắm vào tàu ngầm U-486, nhưng nó thoát được mà không bị hư hại.[1]

Xem thêm

Tham khảo

Chú thích

  1. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Helgason, Guðmundur. "The Type VIIB U-boat U-772". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2025.
  2. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 Helgason, Guðmundur. "Type VIIC". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2025.
  3. 1 2 Helgason, Guðmundur. "War Patrols by German U-boat U-772". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2025.
  4. 1 2 3 4 Gröner, Jung & Maass 1991, tr. 43–46.
  5. Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-772 (first patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2025.
  6. Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-772 (second patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2025.

Thư mục

Liên kết ngoài