U-706 (tàu ngầm Đức)
Tàu ngầm U-boat Type VIIC | |
| Lịch sử | |
|---|---|
| Tên gọi | U-706 |
| Đặt hàng | 9 tháng 10, 1939 |
| Xưởng đóng tàu | HC Stülcken & Sohn, Hamburg |
| Số hiệu xưởng đóng tàu | 766 |
| Đặt lườn | 22 tháng 11, 1940 |
| Hạ thủy | 24 tháng 11, 1941 |
| Nhập biên chế | 16 tháng 3, 1942 |
| Tình trạng | Bị máy bay Đồng Minh đánh chìm trong vịnh Biscay, 2 tháng 8, 1943 [1] |
| Đặc điểm khái quát | |
| Lớp tàu | Tàu ngầm Type VIIC |
| Trọng tải choán nước | |
| Chiều dài | |
| Sườn ngang | |
| Chiều cao | 9,60 m (31 ft 6 in) [2] |
| Mớn nước | 4,74 m (15 ft 7 in) [2] |
| Công suất lắp đặt | |
| Động cơ đẩy |
|
| Tốc độ |
|
| Tầm xa | |
| Độ sâu thử nghiệm |
|
| Thủy thủ đoàn tối đa | 4 sĩ quan, 40-56 thủy thủ |
| Hệ thống cảm biến và xử lý | Gruppenhorchgerät |
| Vũ khí | |
| Thành tích phục vụ[1][3] | |
| Một phần của: |
|
| Mã nhận diện: | M 43 347 |
| Chỉ huy: |
|
| Chiến dịch: |
|
| Chiến thắng: | 3 tàu buôn bị đánh chìm (18.650 GRT) |
U-706 là một tàu ngầm tấn công Lớp Type VII thuộc phân lớp Type VIIC được Hải quân Đức Quốc Xã chế tạo trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nhập biên chế năm 1942, nó đã thực hiện được năm chuyến tuần tra và đánh chìm được ba tàu buôn với tổng tải trọng 18.650 GRT. Trong chuyến tuần tra cuối cùng, U-706 bị một máy bay ném bom Hampden Canada và một chiếc B-24 Liberator Hoa Kỳ thả mìn sâu đánh chìm trong vịnh Biscay vào ngày 2 tháng 8, 1943.
Thiết kế và chế tạo
Thiết kế

Phân lớp VIIC của Tàu ngầm Type VII là một phiên bản VIIB được kéo dài thêm. Chúng có trọng lượng choán nước 769 t (757 tấn Anh) khi nổi và 871 t (857 tấn Anh) khi lặn).[4] Con tàu có chiều dài chung 67,10 m (220 ft 2 in), lớp vỏ trong chịu áp lực dài 50,50 m (165 ft 8 in), mạn tàu rộng 6,20 m (20 ft 4 in), chiều cao 9,60 m (31 ft 6 in) và mớn nước 4,74 m (15 ft 7 in).[4]
Chúng trang bị hai động cơ diesel Germaniawerft F46 siêu tăng áp 6-xy lanh 4 thì, tổng công suất 2.800–3.200 PS (2.100–2.400 kW; 2.800–3.200 bhp), dẫn động hai trục chân vịt đường kính 1,23 m (4,0 ft), cho phép đạt tốc độ tối đa 17,7 kn (32,8 km/h), và tầm hoạt động tối đa 8.500 nmi (15.700 km) khi đi tốc độ đường trường 10 kn (19 km/h). Khi đi ngầm dưới nước, chúng sử dụng hai động cơ/máy phát điện Garbe, Lahmeyer & Co. RP 137/c tổng công suất 750 PS (550 kW; 740 shp). Tốc độ tối đa khi lặn là 7,6 kn (14,1 km/h), và tầm hoạt động 80 nmi (150 km) ở tốc độ 4 kn (7,4 km/h). Con tàu có khả năng lặn sâu đến 230 m (750 ft).[4]
Vũ khí trang bị có năm ống phóng ngư lôi 53,3 cm (21 in), bao gồm bốn ống trước mũi và một ống phía đuôi, và mang theo tổng cộng 14 quả ngư lôi, hoặc tối đa 22 quả thủy lôi TMA, hoặc 33 quả TMB. Tàu ngầm Type VIIC bố trí một hải pháo 8,8 cm SK C/35 cùng một pháo phòng không 2 cm (0,79 in) trên boong tàu. Thủy thủ đoàn bao gồm 4 sĩ quan và 40-56 thủy thủ.[4]
Chế tạo
U-706 được đặt hàng vào ngày 9 tháng 10, 1939,[1] và được đặt lườn tại xưởng tàu của hãng HC Stülcken & Sohn ở Hamburg vào ngày 22 tháng 11, 1940.[1] Nó được hạ thủy vào ngày 24 tháng 11, 1941,[1] và nhập biên chế cùng Hải quân Đức Quốc Xã vào ngày 16 tháng 3, 1942[1] dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Đại úy Hải quân Alexander von Zitzewitz.[1]
Lịch sử hoạt động
1942
Sau khi hoàn tất việc huấn luyện trong thành phần Chi hạm đội U-boat 5, U-706 được điều sang Chi hạm đội U-boat 3 từ ngày 1 tháng 10, 1942 để hoạt động trên tuyến đầu cho đến khi bị mất.[1]
Chuyến tuần tra thứ nhất
U-706 xuất phát từ cảng Kiel, Đức vào ngày 22 tháng 9 cho chuyến tuần tra đầu tiên trong chiến tranh. Nó tiến ra Bắc Hải, rồi băng qua khe GI-UK giữa Iceland và quần đảo Faroe để vòng qua quần đảo Anh, và hoạt động tại khu vực Trung tâm Bắc Đại Tây Dương.[5] Tại đây vào ngày 12 tháng 10, nó phóng ngư lôi tấn công và đánh chìm chiếc tàu buôn Anh Stornest 4.265 GRT, vốn bị phân tán khỏi Đoàn tàu ONS-136, ở vị trí về phía Tây Ireland.[6] Chiếc tàu ngầm kết thúc chuyến tuần tra và đi đến cảng La Pallice tại La Rochelle, bên bờ Đại Tây Dương của Pháp đã bị Đức chiếm đóng, đến nơi vào ngày 7 tháng 11.[3] La Pallice trở thành căn cứ hoạt động chính của chiếc tàu ngầm cho đến khi nó bị mất.[3]
1943
Chuyến tuần tra thứ hai
U-706 xuất phát từ La Pallice vào ngày 8 tháng 12, 1942 cho chuyến tuần tra thứ hai, và đã hoạt động tại các khu vực Bắc Đại Tây Dương phía Đông Newfoundland, Canada và ở lối ra vào eo biển Gibraltar. Tuy nhiên nó không đánh chìm được mục tiêu nào, và kết thúc chuyến tuần tra vào ngày 13 tháng 2, 1943.[7]
Chuyến tuần tra thứ ba và thứ tư
Chuyến tuần tra tiếp theo của U-706, cùng xuất phát và kết thúc tại La Pallice, kéo dài từ ngày 15 tháng 3 đến ngày 11 tháng 5 và diễn ra tại vùng biển Bắc Đại Tây Dương về phía Đông Nam Greenland.[8] Tại đây vào ngày 5 tháng 4, nó đã tấn công Đoàn tàu HX-231 và đánh chìm chiếc tàu chở dầu Anh British Ardour 7.124 GRT ở vị trí về phía Tây Ireland.[9] Đến ngày 12 tháng 4, nó phóng ngư lôi kết liễu chiếc tàu buôn Anh Fresno City 7.261 GRT thuộc Đoàn tàu HX-232 vốn đã bị hư hại sau khi trúng ngư lôi phóng từ tàu ngầm U-168 ở vị trí về phía Đông Nam mũi Farewell, Greenland.[10]
Sau đó U-706 thực hiện chuyến tuần tra ngắn thứ tư chỉ kéo dài từ ngày 4 đến ngày 8 tháng 7.[11]
Chuyến tuần tra thứ năm – Bị mất
U-706 xuất phát từ La Pallice vào ngày 29 tháng 7 cho chuyến tuần tra thứ năm, cũng là chuyến cuối cùng, để hướng ra Đại Tây Dương.[12] Chiếc tàu ngầm vẫn còn đang di chuyển trong vịnh Biscay vào ngày 2 tháng 8, khi nó bị một máy bay ném bom Handley Page Hampden thuộc Liên đội 405 Không quân Hoàng gia Canada thả mìn sâu tấn công, và sau đó bởi một máy bay ném bom B-24 Liberator thuộc Liên đội Chống ngầm 4 Không lực Lục quân Hoa Kỳ.[1] U-706 bị đánh chìm tại tọa độ 46°15′B 10°25′T / 46,25°B 10,417°T; bốn thành viên thủy thủ đoàn của U-706 đã sống sót và được cứu vớt, nhưng 42 người khác đã thiệt mạng cùng con tàu.[1]
"Bầy sói" tham gia
U-706 từng tham gia mười bầy sói:
- Luchs (1 – 6 tháng 10, 1942)
- Panther (6 – 20 tháng 10, 1942)
- Südwärts (24 – 26 tháng 10, 1942)
- Falke (28 tháng 12, 1942 – 4 tháng 1, 1943)
- Jaguar (18 – 31 tháng 1, 1943)
- Seeteufel (23 – 30 tháng 3, 1943)
- Löwenherz (1 – 10 tháng 4, 1943)
- Lerche (10 – 16 tháng 4, 1943)
- Meise (16 – 22 tháng 4, 1943)
- Specht (22 tháng 4 – 4 tháng 5, 1943)
Tóm tắt chiến công
U-706 đã đánh chìm được ba tàu buôn tổng tải trọng 18.650 GRT:
| Ngày | Tên tàu | Quốc tịch | Tải trọng[Ghi chú 1] | Số phận[13] |
|---|---|---|---|---|
| 12 tháng 10, 1942 | Stornest | 4.265 | Bị đánh chìm | |
| 5 tháng 4, 1943 | British Ardour | 7.124 | Bị đánh chìm | |
| 12 tháng 4, 1943 | Fresno City | 7.261 | Bị đánh chìm |
Xem thêm
Tham khảo
Ghi chú
- ↑ Tàu buôn theo tấn đăng ký toàn phần. Tàu quân sự theo trọng lượng choán nước.
Chú thích
- 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Helgason, Guðmundur. "The Type VIIB U-boat U-706". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2025.
- 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 Helgason, Guðmundur. "Type VIIC". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2025.
- 1 2 3 Helgason, Guðmundur. "War Patrols by German U-boat U-706". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2025.
- 1 2 3 4 Gröner, Jung & Maass 1991, tr. 43–46.
- ↑ Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-706 (first patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2025.
- ↑ Helgason, Guðmundur. "Stornest – British Steam merchant". Ships hit by U-boats – uboat.net. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2025.
- ↑ Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-706 (second patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2025.
- ↑ Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-706 (third patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2025.
- ↑ Helgason, Guðmundur. "British Ardour – British Steam tanker". Ships hit by U-boats – uboat.net. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2025.
- ↑ Helgason, Guðmundur. "Fresno City – British Motor merchant". Ships hit by U-boats – uboat.net. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2025.
- ↑ Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-706 (fourth patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2025.
- ↑ Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-706 (fifth patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2025.
- ↑ Helgason, Guðmundur. "Ships hit by U-706". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2025.
Thư mục
- Busch, Rainer; Röll, Hans-Joachim (1999). German U-boat commanders of World War II : a biographical dictionary. Brooks, Geoffrey biên dịch. London, Annapolis, Maryland: Greenhill Books, Naval Institute Press. ISBN 1-55750-186-6.
- Busch, Rainer; Röll, Hans-Joachim (1999). Deutsche U-Boot-Verluste von September 1939 bis Mai 1945 [German U-boat losses from September 1939 to May 1945]. Der U-Boot-Krieg (bằng tiếng Đức). Quyển IV. Hamburg, Berlin, Bonn: Mittler. ISBN 3-8132-0514-2.
- Gröner, Erich; Jung, Dieter; Maass, Martin (1991). U-boats and Mine Warfare Vessels. German Warships 1815–1945. Quyển 2. Thomas, Keith; Magowan, Rachel biên dịch. London: Conway Maritime Press. ISBN 0-85177-593-4.
- Kemp, Paul (1999). U-Boats Destroyed - German Submarine Losses in the World Wars. W & N. ISBN 978-1854095152.
- Neistlé, Axel (2014). German U-Boat Losses during World War II: Details of Destruction (ấn bản thứ 2). Havertown: Frontline Books. ISBN 978-1848322103.
- Sharpe, Peter (1998). U-Boat Fact File: Detailed Service Histories of the Submarines Operated by the Kriegsmarine 1935-1945. Leicester: Midland Publishing. ISBN 1-85780-072-9.
Liên kết ngoài
- Helgason, Guðmundur. "The Type VIIC boat U-706". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2025.
- Hofmann, Markus. "U 706". Deutsche U-Boote 1935-1945 - u-boot-archiv.de (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2025.
- Tàu ngầm Type VII
- Tàu ngầm của Hải quân Đức trong Thế Chiến II
- U-boat bị đánh chìm bởi mìn sâu
- U-boat bị máy bay Canada đánh chìm
- U-boat bị máy bay Hoa Kỳ đánh chìm
- Xác tàu đắm trong Thế chiến II tại Đại Tây Dương
- Sự cố hàng hải năm 1943
- Tàu thủy năm 1941