Bước tới nội dung

U-414 (tàu ngầm Đức)

Tàu ngầm U-boat Type VIIC
Lịch sử
Đức Quốc Xã
Tên gọiU-414
Đặt hàng15 tháng 8, 1940
Xưởng đóng tàuDanziger Werft, Danzig
Số hiệu xưởng đóng tàu115
Đặt lườn14 tháng 6, 1941
Hạ thủy25 tháng 3, 1942
Nhập biên chế1 tháng 7, 1942
Tình trạngBị tàu corvette Anh HMS Vetch đánh chìm trong Địa Trung Hải, 25 tháng 5, 1943 [1]
Đặc điểm khái quát
Lớp tàuTàu ngầm Type VIIC
Trọng tải choán nước
Chiều dài
  • 67,10 m (220 ft 2 in) (chung) [2]
  • 50,50 m (165 ft 8 in) (lườn áp lực) [2]
Sườn ngang
  • 6,20 m (20 ft 4 in) (chung) [2]
  • 4,70 m (15 ft 5 in) (lườn áp lực) [2]
Chiều cao9,60 m (31 ft 6 in) [2]
Mớn nước4,74 m (15 ft 7 in) [2]
Công suất lắp đặt
  • 2.800–3.200 PS (2.100–2.400 kW; 2.800–3.200 shp) (diesel) [2]
  • 750 PS (550 kW; 740 shp) (điện) [2]
Động cơ đẩy
Tốc độ
Tầm xa
  • 8.500 hải lý (15.700 km; 9.800 mi) ở tốc độ 10 hải lý trên giờ (19 km/h; 12 mph) (nổi) [2]
  • 80 hải lý (150 km; 92 mi) ở tốc độ 4 hải lý trên giờ (7,4 km/h; 4,6 mph) (lặn) [2]
Độ sâu thử nghiệm
  • 230 m (750 ft) [2]
  • 250–295 m (820–968 ft) (độ sâu ép vỡ tính toán)
Thủy thủ đoàn tối đa4 sĩ quan, 40-56 thủy thủ
Hệ thống cảm biến và xử lýGruppenhorchgerät
Vũ khí
  • 5 × ống phóng ngư lôi 53,3 cm (21 in) [2]
    • (4 × trước mũi, 1 × phía đuôi)
    • 14 × ngư lôi hoặc
    • 26 × mìn TMA hoặc
    • 39 × mìn TMB
  • 1 × Hải pháo 8,8 cm SK C/35, với 220 quả đạn [2]
  • 2 × pháo phòng không 2 cm (0,79 in) C/30 [2]
Thành tích phục vụ[1][3]
Một phần của:
  • Chi hạm đội U-boat 8
  • 1 tháng 7 – 31 tháng 12, 1942
  • Chi hạm đội U-boat 6
  • 1 tháng 1 – 30 tháng 4, 1943
  • Chi hạm đội U-boat 29
  • 1 – 25 tháng 5, 1943
Mã nhận diện:M 15 421
Chỉ huy:
  • Trung úy Walther Huth
  • 1 tháng 7, 1942 – 25 tháng 5, 1943
Chiến dịch:
  • 3 chuyến tuần tra:
  • 1: 7 tháng 1 – 19 tháng 2, 1943
  • 2: 1 – 14 tháng 4, 1943
  • 3: 13 – 25 tháng 5, 1943
Chiến thắng:
  • 1 tàu buôn bị đánh chìm
    (5.979 GRT)
  • 1 tàu buôn bị hư hại
    (7.134 GRT)

U-414 là một tàu ngầm tấn công Lớp Type VII thuộc phân lớp Type VIIC được Hải quân Đức Quốc Xã chế tạo trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nhập biên chế năm 1942, nó đã thực hiện được ba chuyến tuần tra, đánh chìm được một tàu buôn tải trọng 5.979 GRT, đồng thời gây hư hại cho một tàu buôn khác tải trọng 7.134 GRT. Trong chuyến tuần tra cuối cùng, U-414 bị tàu corvette Anh HMS Vetch thả mìn sâu đánh chìm ngoài khơi Ténès, Algéria vào ngày 25 tháng 5, 1943.

Thiết kế và chế tạo

Thiết kế

Sơ đồ các mặt cắt một tàu ngầm Type VIIC

Phân lớp VIIC của Tàu ngầm Type VII là một phiên bản VIIB được kéo dài thêm. Chúng có trọng lượng choán nước 769 t (757 tấn Anh) khi nổi và 871 t (857 tấn Anh) khi lặn).[4] Con tàu có chiều dài chung 67,10 m (220 ft 2 in), lớp vỏ trong chịu áp lực dài 50,50 m (165 ft 8 in), mạn tàu rộng 6,20 m (20 ft 4 in), chiều cao 9,60 m (31 ft 6 in) và mớn nước 4,74 m (15 ft 7 in).[4]

Chúng trang bị hai động cơ diesel Germaniawerft F46 siêu tăng áp 6-xy lanh 4 thì, tổng công suất 2.800–3.200 PS (2.100–2.400 kW; 2.800–3.200 bhp), dẫn động hai trục chân vịt đường kính 1,23 m (4,0 ft), cho phép đạt tốc độ tối đa 17,7 kn (32,8 km/h), và tầm hoạt động tối đa 8.500 nmi (15.700 km) khi đi tốc độ đường trường 10 kn (19 km/h). Khi đi ngầm dưới nước, chúng sử dụng hai động cơ/máy phát điện Garbe, Lahmeyer & Co. RP 137/c tổng công suất 750 PS (550 kW; 740 shp). Tốc độ tối đa khi lặn là 7,6 kn (14,1 km/h), và tầm hoạt động 80 nmi (150 km) ở tốc độ 4 kn (7,4 km/h). Con tàu có khả năng lặn sâu đến 230 m (750 ft).[4]

Vũ khí trang bị có năm ống phóng ngư lôi 53,3 cm (21 in), bao gồm bốn ống trước mũi và một ống phía đuôi, và mang theo tổng cộng 14 quả ngư lôi, hoặc tối đa 22 quả thủy lôi TMA, hoặc 33 quả TMB. Tàu ngầm Type VIIC bố trí một hải pháo 8,8 cm SK C/35 cùng một pháo phòng không 2 cm (0,79 in) trên boong tàu. Thủy thủ đoàn bao gồm 4 sĩ quan và 40-56 thủy thủ.[4]

Chế tạo

U-414 được đặt hàng vào ngày 15 tháng 8, 1939,[1] và được đặt lườn tại xưởng tàu Danziger Werft ở Danzig (nay là Gdańsk thuộc Ba Lan) vào ngày 14 tháng 6, 1941.[1] Nó được hạ thủy vào ngày 25 tháng 3, 1942,[1] và nhập biên chế cùng Hải quân Đức Quốc Xã vào ngày 1 tháng 7, 1942[1] dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Trung úy Hải quân Walther Huth.[1]

Lịch sử hoạt động

Sau khi hoàn tất việc huấn luyện trong thành phẩn Chi hạm đội U-boat 8, U-414 được điều động sang Chi hạm đội U-boat 6 từ ngày 1 tháng 1, 1943 để hoạt động trên tuyến đầu.[1]

Chuyến tuần tra thứ nhất

U-414 khởi hành từ Kiel vào ngày 7 tháng 1, 1943 cho chuyến tuần tra đầu tiên trong chiến tranh. Nó băng qua khe GIUK giữa quần đảo FaroeIceland để vòng qua quần đảo Anh, và hướng đến vùng biển Bắc Đại Tây Dương về phía Đông Nam Greenland.[5] Vào ngày 4 tháng 2, chiếc tàu ngầm bị một máy bay tấn công, và bị hư hại đến mức phải kết thúc chuyến tuần tra để quay về căn cứ. Nó về đến cảng St. Nazaire bên bờ Đại Tây Dương của Pháp đã bị Đức chiếm đóng, đến nơi vào ngày 19 tháng 2.[1]

Chuyến tuần tra thứ hai

U-414 khởi hành từ cảng St. Nazaire vào ngày 1 tháng 4 cho chuyến tuần tra tiếp theo, và đã thành công khi băng qua eo biển Gibraltar được phía Anh phòng thủ dày đặc, để tiến vào Địa Trung Hải. Nó kết thúc chuyến tuần tra khi đi đến cảng La Spezia, Ý vào ngày 14 tháng 4.[6]

Chuyến tuần tra thứ ba – Bị mất

U-414 được điều động sang Chi hạm đội U-boat 29 từ ngày 1 tháng 5 để hoạt động tại khu vực Địa Trung Hải.[1] Nó xuất phát từ cảng La Spezia vào ngày 13 tháng 5 cho chuyến tuần tra thứ ba, cũng là chuyến cuối cùng, để hoạt động dọc theo bờ biển Bắc Phi.[7] Năm ngày sau đó, chiếc tàu ngầm đã tấn công Đoàn tàu KMS-14 ở vị trí ngoài khơi bờ biển Algérie, đánh chìm chiếc tàu buôn Anh Empire Eve 5.979 GRT tại tọa độ 36°37′B 00°46′Đ / 36,617°B 0,767°Đ / 36.617; 0.767,[8] đồng thời gây hư hại cho chiếc tàu buôn Anh Fort Anne 7.134 GRT.[9] Đến ngày 25 tháng 5, ở vị trí về phía Tây Bắc Ténès, Algérie, tàu corvette HMS Vetch của Hải quân Hoàng gia Anh đã thả mìn sâu tấn công, đánh chìm U-414 tại tọa độ 36°31′B 00°40′Đ / 36,517°B 0,667°Đ / 36.517; 0.667.[1] Toàn bộ 47 thành viên thủy thủ đoàn của U-414 đều tử trận.[1]

"Bầy sói" tham gia

U-414 từng tham gia hai bầy sói:

  • Falke (15 – 19 tháng 1, 1943)
  • Haudegen (19 tháng 1 – 2 tháng 2, 1943)

Tóm tắt chiến công

U-414 đã đánh chìm được một tàu buôn tải trọng 5.979 GRT, đồng thời gây hư hại cho một tàu buôn khác tải trọng 7.134 GRT:

NgàyTên tàuQuốc tịchTải trọng[Ghi chú 1]Số phận[10]
18 tháng 5, 1943Fort Anne United Kingdom7.134Bị hư hại
18 tháng 5, 1943Empire Eve United Kingdom5.979Bị đánh chìm

Xem thêm

  • Chiến dịch U-boat Địa Trung Hải (Thế Chiến II)

Tham khảo

Ghi chú

  1. Tàu buôn theo tấn đăng ký toàn phần. Tàu quân sự theo trọng lượng choán nước.

Chú thích

  1. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Helgason, Guðmundur. "The Type VIIC U-boat U-414". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2025.
  2. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 Helgason, Guðmundur. "Type VIIC". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2025.
  3. Helgason, Guðmundur. "War Patrols by German U-boat U-414". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2025.
  4. 1 2 3 4 Gröner, Jung & Maass 1991, tr. 43–46.
  5. Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-414 (first patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2025.
  6. Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-414 (second patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2025.
  7. Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-414 (third patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2025.
  8. Helgason, Guðmundur. "Empire Eve – British Catapult armed merchant". Ships hit by U-boats – uboat.net. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2025.
  9. Helgason, Guðmundur. "Fort Anne – British Steam merchant". Ships hit by U-boats – uboat.net. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2025.
  10. Helgason, Guðmundur. "Ships hit by U-414". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2025.

Thư mục

  • Busch, Rainer; Röll, Hans-Joachim (1999). German U-boat commanders of World War II : a biographical dictionary. Brooks, Geoffrey biên dịch. London, Annapolis, Maryland: Greenhill Books, Naval Institute Press. ISBN 1-55750-186-6.
  • Busch, Rainer; Röll, Hans-Joachim (1999). Deutsche U-Boot-Verluste von September 1939 bis Mai 1945 [German U-boat losses from September 1939 to May 1945]. Der U-Boot-Krieg (bằng tiếng Đức). Quyển IV. Hamburg, Berlin, Bonn: Mittler. ISBN 3-8132-0514-2.
  • Gröner, Erich; Jung, Dieter; Maass, Martin (1991). U-boats and Mine Warfare Vessels. German Warships 1815–1945. Quyển 2. Thomas, Keith; Magowan, Rachel biên dịch. London: Conway Maritime Press. ISBN 0-85177-593-4.
  • Kemp, Paul (1997). U-Boats Destroyed - German Submarine Losses in the World Wars. Arms & Armour. ISBN 1-85409-515-3.
  • Neistlé, Axel (2014). German U-Boat Losses during World War II: Details of Destruction (ấn bản thứ 2). Havertown: Frontline Books. ISBN 978-1848322103.
  • Sharpe, Peter (1998). U-Boat Fact File: Detailed Service Histories of the Submarines Operated by the Kriegsmarine 1935-1945. Leicester: Midland Publishing. ISBN 1-85780-072-9.

Liên kết ngoài

  • Helgason, Guðmundur. "The Type VIIC boat U-414". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2025.
  • Hofmann, Markus. "U 414". Deutsche U-Boote 1935-1945 - u-boot-archiv.de (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2025.[liên kết hỏng]