Bước tới nội dung

U-1008 (tàu ngầm Đức)

U-995, một chiếc Type VIIC/41 tiêu biểu, hiện là tàu bảo tàng tại Laboe, Đức
Lịch sử
Đức Quốc Xã
Tên gọiU-1008
Đặt hàng23 tháng 3, 1942
Xưởng đóng tàuBlohm & Voss, Hamburg
Số hiệu xưởng đóng tàu208
Đặt lườn12 tháng 2, 1943
Hạ thủy8 tháng 12, 1943
Nhập biên chế1 tháng 2, 1944
Tình trạngBị đánh đắm trong biển Kattegat, 6 tháng 5, 1945[1]
Đặc điểm khái quát
Lớp tàuTàu ngầm Type VIIC/41
Trọng tải choán nước
Chiều dài
  • 67,10 m (220 ft 2 in) (chung) [2]
  • 50,50 m (165 ft 8 in) (lườn áp lực) [2]
Sườn ngang
  • 6,20 m (20 ft 4 in) (chung) [2]
  • 4,70 m (15 ft 5 in) (lườn áp lực) [2]
Chiều cao9,60 m (31 ft 6 in) [2]
Mớn nước4,74 m (15 ft 7 in) [2]
Công suất lắp đặt
  • 2.800–3.200 PS (2.100–2.400 kW; 2.800–3.200 shp) (diesel) [2]
  • 750 PS (550 kW; 740 shp) (điện) [2]
Động cơ đẩy
Tốc độ
Tầm xa
  • 8.500 hải lý (15.700 km; 9.800 mi) ở tốc độ 10 hải lý trên giờ (19 km/h; 12 mph) (nổi) [2]
  • 80 hải lý (150 km; 92 mi) ở tốc độ 4 hải lý trên giờ (7,4 km/h; 4,6 mph) (lặn) [2]
Độ sâu thử nghiệm
  • 250 m (820 ft) [2]
  • 275–325 m (902–1.066 ft) (độ sâu ép vỡ tính toán)
Thủy thủ đoàn tối đa4 sĩ quan, 40-56 thủy thủ
Vũ khí
  • 5 × ống phóng ngư lôi 53,3 cm (21 in) [2]
    • (4 × trước mũi, 1 × phía đuôi)
    • 14 × ngư lôi
  • 1 × Hải pháo 8,8 cm SK C/35, với 220 quả đạn [2]
  • 1 × pháo phòng không 3,7 cm (1,5 in) Flak M42 [2]
  • 2 × pháo phòng không 2 cm (0,79 in) C/30 [2]
Thành tích phục vụ[1]
Một phần của:
  • Chi hạm đội U-boat 31
  • 1 tháng 2 – 31 tháng 10, 1944
  • Chi hạm đội U-boat 24
  • 1 tháng 11, 1944 – 31 tháng 1, 1945
  • Chi hạm đội U-boat 18
  • 1 – 28 tháng 2, 1945
  • Chi hạm đội U-boat 5
  • 1 tháng 3 – 6 tháng 5, 1945
Mã nhận diện:M 55 064
Chỉ huy:
  • Trung úy Diether Todenhagen
  • 1 tháng 2 – 17 tháng 11, 1944
  • Trung úy Hans Gessner
  • 18 tháng 11, 1944 – 6 tháng 5, 1945
Chiến dịch:Không
Chiến thắng:Không

U-1008 là một tàu ngầm tấn công Lớp Type VII thuộc phân lớp Type VIIC/41 được Hải quân Đức Quốc Xã chế tạo trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nhập biên chế năm 1944, nó chỉ thuần túy đảm nhiệm vai trò huấn luyện, nên không thực hiện chuyến tuần tra nào và không đánh chìm được mục tiêu nào. U-1008 bị hư hại do trúng mìn sâu thả từ máy bay ném bom B-24 Liberator của Không quân Hoàng gia Anh, và cuối cùng bị thủy thủ đoàn tự đánh đắm tại khu vực biển Katteget vào ngày 6 tháng 5, 1945.

Thiết kế và chế tạo

Thiết kế

Mặt cắt của một tàu ngầm Type VIIC

Phân lớp VIIC/41 của Tàu ngầm Type VII là một phiên bản VIIC được cải tiến nhẹ có trọng ượng chung nhẹ hơn. Chúng có trọng lượng choán nước 759 t (747 tấn Anh) khi nổi và 860 t (850 tấn Anh) khi lặn).[3] Con tàu có chiều dài chung 67,10 m (220 ft 2 in), lớp vỏ trong chịu áp lực dài 50,50 m (165 ft 8 in), mạn tàu rộng 6,20 m (20 ft 4 in), chiều cao 9,60 m (31 ft 6 in) và mớn nước 4,74 m (15 ft 7 in).[3]

Chúng trang bị hai động cơ diesel Germaniawerft F46 siêu tăng áp 6-xy lanh 4 thì, tổng công suất 2.800–3.200 PS (2.100–2.400 kW; 2.800–3.200 bhp), dẫn động hai trục chân vịt đường kính 1,23 m (4,0 ft), cho phép đạt tốc độ tối đa 17,7 kn (32,8 km/h), và tầm hoạt động tối đa 8.500 nmi (15.700 km) khi đi tốc độ đường trường 10 kn (19 km/h). Khi đi ngầm dưới nước, chúng sử dụng hai động cơ/máy phát điện Garbe, Lahmeyer & Co. RP 137/c tổng công suất 750 PS (550 kW; 740 shp). Tốc độ tối đa khi lặn là 7,6 kn (14,1 km/h), và tầm hoạt động 80 nmi (150 km) ở tốc độ 4 kn (7,4 km/h). Với lườn áp lực chắn chắn hơn, phân lớp VIIC/41 có khả năng lặn sâu đến 250 m (820 ft).[3]

Vũ khí trang bị có năm ống phóng ngư lôi 53,3 cm (21 in), bao gồm bốn ống trước mũi và một ống phía đuôi, và mang theo tổng cộng 14 quả ngư lôi, hoặc tối đa 22 quả thủy lôi TMA, hoặc 33 quả TMB. Tàu ngầm Type VIIC bố trí một hải pháo 8,8 cm SK C/35, một pháo phòng không 3,7 cm (1,5 in) Flak M42 cùng hai pháo phòng không 2 cm (0,79 in) trên boong tàu. Thủy thủ đoàn bao gồm 4 sĩ quan và 40-56 thủy thủ.[3]

Chế tạo

U-1008 được đặt hàng vào ngày 23 tháng 3, 1942,[1] và được đặt lườn tại xưởng tàu Blohm & Voss ở Hamburg vào ngày 12 tháng 2, 1943.[1] Nó được hạ thủy vào ngày 8 tháng 12, 1943,[1] và nhập biên chế cùng Hải quân Đức Quốc Xã vào ngày 1 tháng 2, 1944[1] dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Trung úy Hải quân Diether Todenhagen.[1]

Lịch sử hoạt động

Sau khi hoàn tất việc huấn luyện trong thành phần Chi hạm đội U-boat 31, U-1008 lần lượt được điều sang Chi hạm đội U-boat 24 từ ngày 1 tháng 11, 1944,[1] Chi hạm đội U-boat 18 từ ngày 1 tháng 2, 1945,[1] và cuối cùng sang Chi hạm đội U-boat 5 từ ngày 1 tháng 3, 1945.[1]

Vào ngày 5 tháng 5, 1945, U-1008 đang di chuyển trong vùng biển Kattegat, tại tọa độ 56°06′B 11°06′Đ / 56,1°B 11,1°Đ / 56.100; 11.100, khi nó bị một máy bay ném bom B-24 Liberator thuộc Liên đội 224 Không quân Hoàng gia Anh (RAF) thả mìn sâu tấn công. Chiếc Liberator được ghi công đã đánh chìm chiếc tàu ngầm, nhưng thực ra chỉ gây hư hại nhẹ cho mục tiêu. Dù sao chiếc U-boat cũng bị thủy thủ đoàn tự đánh đắm vào ngày hôm sau, ở vị trí về phía Bắc đảo Hjelm, Đan Mạch, tại tọa độ 56°14′B 10°51′Đ / 56,233°B 10,85°Đ / 56.233; 10.850.[1]

Trước đây có nguồn cho rằng U-1008 bị một máy bay ném bom B-24 Liberator thuộc Liên đội 86 RAF thả mìn sâu đánh chìm vào ngày 6 tháng 5, ở vị trí về phía Đông Bắc Skagen Horn, Đan Mạch, tại tọa độ 57°52′B 10°47′Đ / 57,867°B 10,783°Đ / 57.867; 10.783. Đợt tấn công này thực ra đã đánh chìm tàu ngầm U-3523.[1]

Xem thêm

Tham khảo

Chú thích

  1. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Helgason, Guðmundur. "The Type VIIC/41 U-boat U-1008". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2025.
  2. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 Helgason, Guðmundur. "Type VIIC/41". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2025.
  3. 1 2 3 4 Gröner, Jung & Maass 1991, tr. 43–46.

Thư mục

  • Busch, Rainer; Röll, Hans-Joachim (1999). German U-boat commanders of World War II : a biographical dictionary. Brooks, Geoffrey biên dịch. London, Annapolis, Maryland: Greenhill Books, Naval Institute Press. ISBN 1-55750-186-6.
  • Busch, Rainer; Röll, Hans-Joachim (1999). Deutsche U-Boot-Verluste von September 1939 bis Mai 1945 [German U-boat losses from September 1939 to May 1945]. Der U-Boot-Krieg (bằng tiếng Đức). Quyển IV. Hamburg, Berlin, Bonn: Mittler. ISBN 3-8132-0514-2.
  • Gröner, Erich; Jung, Dieter; Maass, Martin (1991). U-boats and Mine Warfare Vessels. German Warships 1815–1945. Quyển 2. Thomas, Keith; Magowan, Rachel biên dịch. London: Conway Maritime Press. ISBN 0-85177-593-4.
  • Neistlé, Axel (2014). German U-Boat Losses during World War II: Details of Destruction (ấn bản thứ 2). Havertown: Frontline Books. ISBN 978-1848322103.
  • Sharpe, Peter (1998). U-Boat Fact File: Detailed Service Histories of the Submarines Operated by the Kriegsmarine 1935-1945. Leicester: Midland Publishing. ISBN 1-85780-072-9.

Liên kết ngoài