Array
(
    [0] => 
[1] => Thiết_kế_và_chế_tạo )
U-973 (tàu ngầm Đức) – Wiki Scholarship
Bước tới nội dung

U-973 (tàu ngầm Đức)

Tàu ngầm U-boat Type VIIC
Lịch sử
Đức Quốc Xã
Tên gọiU-973
Đặt hàng5 tháng 6, 1941
Xưởng đóng tàuBlohm & Voss, Hamburg
Số hiệu xưởng đóng tàu173
Đặt lườn26 tháng 6, 1942
Hạ thủy10 tháng 3, 1943
Nhập biên chế15 tháng 4, 1943
Tình trạngBị máy bay xuất phát từ tàu sân bay hộ tống Anh HMS Chaser đánh chìm trong biển Na Uy, 6 tháng 3, 1944 [1]
Đặc điểm khái quát
Lớp tàuTàu ngầm Type VIIC
Trọng tải choán nước
Chiều dài
  • 67,10 m (220 ft 2 in) (chung) [2]
  • 50,50 m (165 ft 8 in) (lườn áp lực) [2]
Sườn ngang
  • 6,20 m (20 ft 4 in) (chung) [2]
  • 4,70 m (15 ft 5 in) (lườn áp lực) [2]
Chiều cao9,60 m (31 ft 6 in) [2]
Mớn nước4,74 m (15 ft 7 in) [2]
Công suất lắp đặt
  • 2.800–3.200 PS (2.100–2.400 kW; 2.800–3.200 shp) (diesel) [2]
  • 750 PS (550 kW; 740 shp) (điện) [2]
Động cơ đẩy
Tốc độ
Tầm xa
  • 8.500 hải lý (15.700 km; 9.800 mi) ở tốc độ 10 hải lý trên giờ (19 km/h; 12 mph) (nổi) [2]
  • 80 hải lý (150 km; 92 mi) ở tốc độ 4 hải lý trên giờ (7,4 km/h; 4,6 mph) (lặn) [2]
Độ sâu thử nghiệm
  • 230 m (750 ft) [2]
  • 250–295 m (820–968 ft) (độ sâu ép vỡ tính toán)
Thủy thủ đoàn tối đa4 sĩ quan, 40-56 thủy thủ
Hệ thống cảm biến và xử lýGruppenhorchgerät
Vũ khí
  • 5 × ống phóng ngư lôi 53,3 cm (21 in) [2]
    • (4 × trước mũi, 1 × phía đuôi)
    • 14 × ngư lôi hoặc
    • 26 × mìn TMA hoặc
    • 39 × mìn TMB
  • 1 × Hải pháo 8,8 cm SK C/35, với 220 quả đạn [2]
  • 2 × pháo phòng không 2 cm (0,79 in) C/30 [2]
Thành tích phục vụ[1][3]
Một phần của:
  • Chi hạm đội U-boat 5
  • 15 tháng 4, 1943 – 6 tháng 3, 1944
Mã nhận diện:M 42 381
Chỉ huy:
  • Trung úy Klaus Paepenmöller
  • 15 tháng 4, 1943 – 6 tháng 3, 1944
Chiến dịch:
  • 2 chuyến tuần tra:
  • 1: 2 – 12 tháng 2, 1944
  • 2: 1 – 6 tháng 3, 1944
Chiến thắng:Không

U-973 là một tàu ngầm tấn công Lớp Type VII thuộc phân lớp Type VIIC được Hải quân Đức Quốc Xã chế tạo trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nhập biên chế năm 1943, nó chỉ thực hiện được hai chuyến tuần tra và không đánh chìm được mục tiêu nào, trước khi bị một máy bay ném bom-ngư lôi Fairey Swordfish xuất phát từ tàu sân bay hộ tống HMS Chaser của Hải quân Hoàng gia Anh phóng rocket đánh chìm trong biển Na Uy vào ngày 6 tháng 3, 1944.

Thiết kế và chế tạo

Thiết kế

Sơ đồ các mặt cắt một tàu ngầm Type VIIC

Phân lớp VIIC của Tàu ngầm Type VII là một phiên bản VIIB được kéo dài thêm. Chúng có trọng lượng choán nước 769 t (757 tấn Anh) khi nổi và 871 t (857 tấn Anh) khi lặn).[4] Con tàu có chiều dài chung 67,10 m (220 ft 2 in), lớp vỏ trong chịu áp lực dài 50,50 m (165 ft 8 in), mạn tàu rộng 6,20 m (20 ft 4 in), chiều cao 9,60 m (31 ft 6 in) và mớn nước 4,74 m (15 ft 7 in).[4]

Chúng trang bị hai động cơ diesel Germaniawerft F46 siêu tăng áp 6-xy lanh 4 thì, tổng công suất 2.800–3.200 PS (2.100–2.400 kW; 2.800–3.200 bhp), dẫn động hai trục chân vịt đường kính 1,23 m (4,0 ft), cho phép đạt tốc độ tối đa 17,7 kn (32,8 km/h), và tầm hoạt động tối đa 8.500 nmi (15.700 km) khi đi tốc độ đường trường 10 kn (19 km/h). Khi đi ngầm dưới nước, chúng sử dụng hai động cơ/máy phát điện Garbe, Lahmeyer & Co. RP 137/c tổng công suất 750 PS (550 kW; 740 shp). Tốc độ tối đa khi lặn là 7,6 kn (14,1 km/h), và tầm hoạt động 80 nmi (150 km) ở tốc độ 4 kn (7,4 km/h). Con tàu có khả năng lặn sâu đến 230 m (750 ft).[4]

Vũ khí trang bị có năm ống phóng ngư lôi 53,3 cm (21 in), bao gồm bốn ống trước mũi và một ống phía đuôi, và mang theo tổng cộng 14 quả ngư lôi, hoặc tối đa 22 quả thủy lôi TMA, hoặc 33 quả TMB. Tàu ngầm Type VIIC bố trí một hải pháo 8,8 cm SK C/35 cùng một pháo phòng không 2 cm (0,79 in) trên boong tàu. Thủy thủ đoàn bao gồm 4 sĩ quan và 40-56 thủy thủ.[4]

Chế tạo

U-973 được đặt hàng vào ngày 5 tháng 6, 1941,[1] và được đặt lườn tại xưởng tàu của hãng Blohm & Voss ở Hamburg vào ngày 26 tháng 6, 1942.[1] Nó được hạ thủy vào ngày 10 tháng 3, 1943,[1] và nhập biên chế cùng Hải quân Đức Quốc Xã vào ngày 15 tháng 4, 1943[1] dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Trung úy Hải quân Klaus Paepenmöller.[1]

Lịch sử hoạt động

Sau khi hoàn tất việc huấn luyện trong thành phần Chi hạm đội U-boat 8, U-973 tiếp tục ở lại cùng đơn vị này để hoạt động trên tuyến đầu cho đến khi bị mất.[1]

Chuyến tuần tra thứ nhất

Vào cuối tháng 1, 1944, U-973 đã di chuyển từ Kiel, Đức lần lượt đến các cảng Marvika (ngoại vi Kristiansand) và Bergen cùng thuộc Na Uy,[3] rồi xuất phát từ Bergen vào ngày 2 tháng 2 cho chuyến tuần tra duy nhất trong chiến tranh. Nó đã hoạt động tại các vùng biển Na Uybiển Barents, nhưng không đánh chìm được mục tiêu nào, và kết thúc chuyến tuần tra tại Narvik, Na Uy vào ngày 12 tháng 2.[5]

Chuyến tuần tra thứ hai – Bị mất

Đến cuối tháng 2, U-973 di chuyển từ Narvik đến cảng Trondheim, Na Uy,[3] rồi khởi hành từ đây vào ngày 1 tháng 3 cho chuyến tuần tra thứ hai, cũng là chuyến cuối cùng.[6] Đang khi hoạt động ở khu vực phía Bắc biển Na Uy vào ngày 6 tháng 3, chiếc tàu ngầm bị một một máy bay ném bom-ngư lôi Fairey Swordfish thuộc Liên đội 816, xuất phát từ tàu sân bay hộ tống HMS Chaser của Hải quân Hoàng gia Anh phóng rocket đánh chìm tại tọa độ 70°40′B 5°48′Đ / 70,667°B 5,8°Đ / 70.667; 5.800.[1] Trong tổng số 53 thành viên thủy thủ đoàn của U-973, chỉ có hai người sống sót.[1]

"Bầy sói" tham gia

U-973 từng tham gia ba bầy sói:

  • Werwolf (4 – 11 tháng 2, 1944)
  • Boreas (2 – 5 tháng 3, 1944)
  • Taifun (5 – 6 tháng 3, 1944)

Xem thêm

Tham khảo

Chú thích

  1. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Helgason, Guðmundur. "The Type VIIC U-boat U-973". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2025.
  2. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 Helgason, Guðmundur. "Type VIIC". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2025.
  3. 1 2 3 Helgason, Guðmundur. "War Patrols by German U-boat U-973". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2025.
  4. 1 2 3 4 Gröner, Jung & Maass 1991, tr. 43–46.
  5. Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-973 (first patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2025.
  6. Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-973 (second patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2025.

Thư mục

  • Busch, Rainer; Röll, Hans-Joachim (1999). German U-boat commanders of World War II : a biographical dictionary. Brooks, Geoffrey biên dịch. London, Annapolis, Maryland: Greenhill Books, Naval Institute Press. ISBN 1-55750-186-6.
  • Busch, Rainer; Röll, Hans-Joachim (1999). Deutsche U-Boot-Verluste von September 1939 bis Mai 1945 [German U-boat losses from September 1939 to May 1945]. Der U-Boot-Krieg (bằng tiếng Đức). Quyển IV. Hamburg, Berlin, Bonn: Mittler. ISBN 3-8132-0514-2.
  • Gröner, Erich; Jung, Dieter; Maass, Martin (1991). U-boats and Mine Warfare Vessels. German Warships 1815–1945. Quyển 2. Thomas, Keith; Magowan, Rachel biên dịch. London: Conway Maritime Press. ISBN 0-85177-593-4.
  • Neistlé, Axel (2014). German U-Boat Losses during World War II: Details of Destruction (ấn bản thứ 2). Havertown: Frontline Books. ISBN 978-1848322103.
  • Sharpe, Peter (1998). U-Boat Fact File: Detailed Service Histories of the Submarines Operated by the Kriegsmarine 1935-1945. Leicester: Midland Publishing. ISBN 1-85780-072-9.

Liên kết ngoài

  • Helgason, Guðmundur. "The Type VIIC boat U-973". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2025.
  • Hofmann, Markus. "U 973". Deutsche U-Boote 1935-1945 - u-boot-archiv.de (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2025.