Array
(
    [0] => 
[1] => Thiết_kế_và_chế_tạo )
U-966 (tàu ngầm Đức) – Wiki Scholarship
Bước tới nội dung

U-966 (tàu ngầm Đức)

Tàu ngầm U-boat Type VIIC
Lịch sử
Đức Quốc Xã
Tên gọiU-966
Đặt hàng5 tháng 6, 1941
Xưởng đóng tàuBlohm & Voss, Hamburg
Số hiệu xưởng đóng tàu166
Đặt lườn1 tháng 5, 1942
Hạ thủy14 tháng 1, 1943
Nhập biên chế4 tháng 3, 1943
Tình trạngBị máy bay Đồng Minh đánh chìm trong vịnh Biscay, 10 tháng 11, 1943[1]
Đặc điểm khái quát
Lớp tàuTàu ngầm Type VIIC
Trọng tải choán nước
Chiều dài
  • 67,10 m (220 ft 2 in) (chung) [2]
  • 50,50 m (165 ft 8 in) (lườn áp lực) [2]
Sườn ngang
  • 6,20 m (20 ft 4 in) (chung) [2]
  • 4,70 m (15 ft 5 in) (lườn áp lực) [2]
Chiều cao9,60 m (31 ft 6 in) [2]
Mớn nước4,74 m (15 ft 7 in) [2]
Công suất lắp đặt
  • 2.800–3.200 PS (2.100–2.400 kW; 2.800–3.200 shp) (diesel) [2]
  • 750 PS (550 kW; 740 shp) (điện) [2]
Động cơ đẩy
Tốc độ
Tầm xa
  • 8.500 hải lý (15.700 km; 9.800 mi) ở tốc độ 10 hải lý trên giờ (19 km/h; 12 mph) (nổi) [2]
  • 80 hải lý (150 km; 92 mi) ở tốc độ 4 hải lý trên giờ (7,4 km/h; 4,6 mph) (lặn) [2]
Độ sâu thử nghiệm
  • 230 m (750 ft) [2]
  • 250–295 m (820–968 ft) (độ sâu ép vỡ tính toán)
Thủy thủ đoàn tối đa4 sĩ quan, 40-56 thủy thủ
Hệ thống cảm biến và xử lýGruppenhorchgerät
Vũ khí
  • 5 × ống phóng ngư lôi 53,3 cm (21 in) [2]
    • (4 × trước mũi, 1 × phía đuôi)
    • 14 × ngư lôi hoặc
    • 26 × mìn TMA hoặc
    • 39 × mìn TMB
  • 1 × Hải pháo 8,8 cm SK C/35, với 220 quả đạn [2]
  • 2 × pháo phòng không 2 cm (0,79 in) C/30 [2]
Thành tích phục vụ[1][3]
Một phần của:
  • Chi hạm đội U-boat 5
  • 4 tháng 3 – 31 tháng 7, 1943
  • Chi hạm đội U-boat 9
  • 1 tháng 8 – 10 tháng 11, 1943
Mã nhận diện:M 51 418
Chỉ huy:
  • Trung úy Eckehard Wolf
  • 4 tháng 3 – 10 tháng 11, 1943
Chiến dịch:
  • 1 chuyến tuần tra:
  • 5 tháng 10 – 10 tháng 11, 1943
Chiến thắng:Không

U-966 là một tàu ngầm tấn công Lớp Type VII thuộc phân lớp Type VIIC được Hải quân Đức Quốc Xã chế tạo trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nhập biên chế năm 1943, nó chỉ thực hiện được một chuyến tuần tra duy nhất và không đánh chìm được mục tiêu nào, trước khi bị máy bay ném bom Đồng Minh thả mìn sâu và bắn rocket đánh chìm trong vịnh Biscay vào ngày 10 tháng 11, 1943.

Thiết kế và chế tạo

Thiết kế

Sơ đồ các mặt cắt một tàu ngầm Type VIIC

Phân lớp VIIC của Tàu ngầm Type VII là một phiên bản VIIB được kéo dài thêm. Chúng có trọng lượng choán nước 769 t (757 tấn Anh) khi nổi và 871 t (857 tấn Anh) khi lặn).[4] Con tàu có chiều dài chung 67,10 m (220 ft 2 in), lớp vỏ trong chịu áp lực dài 50,50 m (165 ft 8 in), mạn tàu rộng 6,20 m (20 ft 4 in), chiều cao 9,60 m (31 ft 6 in) và mớn nước 4,74 m (15 ft 7 in).[4]

Chúng trang bị hai động cơ diesel Germaniawerft F46 siêu tăng áp 6-xy lanh 4 thì, tổng công suất 2.800–3.200 PS (2.100–2.400 kW; 2.800–3.200 bhp), dẫn động hai trục chân vịt đường kính 1,23 m (4,0 ft), cho phép đạt tốc độ tối đa 17,7 kn (32,8 km/h), và tầm hoạt động tối đa 8.500 nmi (15.700 km) khi đi tốc độ đường trường 10 kn (19 km/h). Khi đi ngầm dưới nước, chúng sử dụng hai động cơ/máy phát điện Garbe, Lahmeyer & Co. RP 137/c tổng công suất 750 PS (550 kW; 740 shp). Tốc độ tối đa khi lặn là 7,6 kn (14,1 km/h), và tầm hoạt động 80 nmi (150 km) ở tốc độ 4 kn (7,4 km/h). Con tàu có khả năng lặn sâu đến 230 m (750 ft).[4]

Vũ khí trang bị có năm ống phóng ngư lôi 53,3 cm (21 in), bao gồm bốn ống trước mũi và một ống phía đuôi, và mang theo tổng cộng 14 quả ngư lôi, hoặc tối đa 22 quả thủy lôi TMA, hoặc 33 quả TMB. Tàu ngầm Type VIIC bố trí một hải pháo 8,8 cm SK C/35 cùng một pháo phòng không 2 cm (0,79 in) trên boong tàu. Thủy thủ đoàn bao gồm 4 sĩ quan và 40-56 thủy thủ.[4]

Chế tạo

U-966 được đặt hàng vào ngày 5 tháng 6, 1941,[1] và được đặt lườn tại xưởng tàu của hãng Blohm & Voss ở Hamburg vào ngày 1 tháng 5, 1942.[1] Nó được hạ thủy vào ngày 14 tháng 1, 1943,[1] và nhập biên chế cùng Hải quân Đức Quốc Xã vào ngày 4 tháng 3, 1943[1] dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Trung úy Hải quân Eckehard Wolf.[1]

Lịch sử hoạt động

Sau khi hoàn tất việc huấn luyện trong thành phần Chi hạm đội U-boat 5, U-966 được điều sang Chi hạm đội U-boat 9 từ ngày 1 tháng 8, 1943 để hoạt động trên tuyến đầu cho đến khi bị mất.[1]

Vào giữa tháng 9, 1943, U-966 đã di chuyển từ cảng Kiel, Đức lần lượt đến các cảng MoldeTrondheim cùng thuộc Na Uy,[3] rồi xuất phát từ Trondheim vào ngày 5 tháng 10 cho chuyến tuần tra duy nhất trong chiến tranh. Nó đã băng qua khe GI-UK giữa Iceland và quần đảo Faroe để vòng qua quần đảo Anh, và hoạt động trong vùng biển Bắc Đại Tây Dương về phía Tây Nam Ireland.[5]

Tại đây vào ngày 10 tháng 11, U-966 bị một máy bay ném bom Vickers Wellington thuộc Liên đội 612 Không quân Hoàng gia Anh (RAF) cùng các máy bay ném bom B-24 Liberator thuộc các liên đội VB-103 và VB-100 Hải quân Hoa Kỳ thả mìn sâu tấn công.[1] Sau đó nó tiếp tục bị một chiếc Liberator khác thuộc Liên đội 311 RAF (với đội bay người Séc) tấn công bằng rocket.[6] Chiếc tàu ngầm bị hư hại đã đi hết tốc độ hướng thẳng vào bờ biển Tây Ban Nha (trung lập), và mắc cạn khi còn cách bờ 200 yd (180 m).[1][6]

Thủy thủ đoàn đã bỏ tàu rồi đánh đắm U-966 trong vịnh Biscay ở vị ngoài khơi O Porto de Bares, Galicia, Tây Ban Nha, tại tọa độ 43°46′8″B 07°38′0″T / 43,76889°B 7,63333°T / 43.76889; -7.63333.[1] Trong tổng số 50 thành viên thủy thủ đoàn, 42 người đã sống sót, đổ bộ lên bờ trên các xuồng cứu sinh, và bị giới chức Tây Ban Nha bắt giữ.[1][6]

Xác tàu đắm của U-966 đượccác thợ lặn Tây Ban Nha tìm thấy năm 2018.[7]

Xem thêm

Tham khảo

Chú thích

  1. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Helgason, Guðmundur. "The Type VIIC U-boat U-966". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2025.
  2. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 Helgason, Guðmundur. "Type VIIC". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2025.
  3. 1 2 Helgason, Guðmundur. "War Patrols by German U-boat U-966". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2025.
  4. 1 2 3 4 Gröner, Jung & Maass 1991, tr. 43–46.
  5. Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-966 (first patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2025.
  6. 1 2 3 Vančata 2013, tr. 63.
  7. "Nazi U-boat wreckage found off Galicia by Spanish divers". BBC.com. ngày 6 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2018.

Thư mục

  • Busch, Rainer; Röll, Hans-Joachim (1999). German U-boat commanders of World War II : a biographical dictionary. Brooks, Geoffrey biên dịch. London, Annapolis, Maryland: Greenhill Books, Naval Institute Press. ISBN 1-55750-186-6.
  • Busch, Rainer; Röll, Hans-Joachim (1999). Deutsche U-Boot-Verluste von September 1939 bis Mai 1945 [German U-boat losses from September 1939 to May 1945]. Der U-Boot-Krieg (bằng tiếng Đức). Quyển IV. Hamburg, Berlin, Bonn: Mittler. ISBN 3-8132-0514-2.
  • Gröner, Erich; Jung, Dieter; Maass, Martin (1991). U-boats and Mine Warfare Vessels. German Warships 1815–1945. Quyển 2. Thomas, Keith; Magowan, Rachel biên dịch. London: Conway Maritime Press. ISBN 0-85177-593-4.
  • Neistlé, Axel (2014). German U-Boat Losses during World War II: Details of Destruction (ấn bản thứ 2). Havertown: Frontline Books. ISBN 978-1848322103.
  • Sharpe, Peter (1998). U-Boat Fact File: Detailed Service Histories of the Submarines Operated by the Kriegsmarine 1935-1945. Leicester: Midland Publishing. ISBN 1-85780-072-9.
  • Vančata, Pavel (2013). 311 Squadron. Sandomierz: Mushroom Model Publications. ISBN 978-83-61421-43-6.

Liên kết ngoài

  • Helgason, Guðmundur. "The Type VIIC boat U-966". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2025.
  • Hofmann, Markus. "U 966". Deutsche U-Boote 1935-1945 - u-boot-archiv.de (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2025.