Bước tới nội dung

U-617 (tàu ngầm Đức)

Tàu ngầm U-617 mắc cạn ngoài khơi Maroc sau khi bị không kích, ngày 12 tháng 9 năm 1943.
Lịch sử
Đức Quốc Xã
Tên gọiU-617
Đặt hàng15 tháng 8, 1940
Xưởng đóng tàuBlohm & Voss, Hamburg
Số hiệu xưởng đóng tàu593
Đặt lườn31 tháng 5, 1941
Hạ thủy14 tháng 2, 1942
Nhập biên chế9 tháng 4, 1942
Tình trạngBị máy bay cùng tàu chiến Anh và Australia đánh chìm trong Địa Trung Hải, 12 tháng 9, 1943 [1]
Đặc điểm khái quát
Lớp tàuTàu ngầm Type VIIC
Trọng tải choán nước
Chiều dài
  • 67,10 m (220 ft 2 in) (chung) [2]
  • 50,50 m (165 ft 8 in) (lườn áp lực) [2]
Sườn ngang
  • 6,20 m (20 ft 4 in) (chung) [2]
  • 4,70 m (15 ft 5 in) (lườn áp lực) [2]
Chiều cao9,60 m (31 ft 6 in) [2]
Mớn nước4,74 m (15 ft 7 in) [2]
Công suất lắp đặt
  • 2.800–3.200 PS (2.100–2.400 kW; 2.800–3.200 shp) (diesel) [2]
  • 750 PS (550 kW; 740 shp) (điện) [2]
Động cơ đẩy
Tốc độ
Tầm xa
  • 8.500 hải lý (15.700 km; 9.800 mi) ở tốc độ 10 hải lý trên giờ (19 km/h; 12 mph) (nổi) [2]
  • 80 hải lý (150 km; 92 mi) ở tốc độ 4 hải lý trên giờ (7,4 km/h; 4,6 mph) (lặn) [2]
Độ sâu thử nghiệm
  • 230 m (750 ft) [2]
  • 250–295 m (820–968 ft) (độ sâu ép vỡ tính toán)
Thủy thủ đoàn tối đa4 sĩ quan, 40-56 thủy thủ
Hệ thống cảm biến và xử lýGruppenhorchgerät
Vũ khí
  • 5 × ống phóng ngư lôi 53,3 cm (21 in) [2]
    • (4 × trước mũi, 1 × phía đuôi)
    • 14 × ngư lôi hoặc
    • 26 × mìn TMA hoặc
    • 39 × mìn TMB
  • 1 × Hải pháo 8,8 cm SK C/35, với 220 quả đạn [2]
  • 2 × pháo phòng không 2 cm (0,79 in) C/30 [2]
Thành tích phục vụ[1][3]
Một phần của:
  • Chi hạm đội U-boat 5
  • 9 tháng 4 – 31 tháng 8, 1942
  • Chi hạm đội U-boat 7
  • 1 tháng 9 – 30 tháng 11, 1942
  • Chi hạm đội U-boat 29
  • 1 tháng 12, 1942 – 12 tháng 9, 1943
Mã nhận diện:M 46 554
Chỉ huy:
  • Đại úy Albrecht Brandi
  • 9 tháng 4, 1942 – 12 tháng 9, 1943
Chiến dịch:
  • 7 chuyến tuần tra:
  • 1: 29 tháng 8 – 7 tháng 10, 1942
  • 2: 2 – 28 tháng 11, 1942
  • 3: 21 tháng 12, 1942 – 17 tháng 1, 1943
  • 4: 27 tháng 1 – 13 tháng 2, 1943
  • 5: 25 tháng 3 – 17 tháng 4, 1943
  • 6: 19 tháng 6 – 20 tháng 7, 1943
  • 7: 28 tháng 8 – 12 tháng 9, 1943
Chiến thắng:
  • 8 tàu buôn bị đánh chìm
    (25.879 GRT)
  • 2 tàu chiến bị đánh chìm
    (3.700 tấn)
  • 1 tàu chiến phụ trợ bị đánh chìm
    (810 GRT)

U-617 là một tàu ngầm tấn công Lớp Type VII thuộc phân lớp Type VIIC được Hải quân Đức Quốc Xã chế tạo trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nhập biên chế năm 1942, nó đã thực hiện được bảy chuyến tuần tra, đánh chìm được tám tàu buôn tổng tải trọng 25.879 GRT, hai tàu chiến tổng tải trọng 3.700 tấn, cùng một tàu chiến phụ trợ tải trọng 810 GRT. Trong chuyến tuần tra cuối cùng, U-617 bị máy bay cùng tàu chiến Anh và Australia đánh chìm trong Địa Trung Hải về phía Tây Bắc Mellila, Maroc vào ngày 12 tháng 9, 1943.

Thiết kế và chế tạo

Thiết kế

Sơ đồ các mặt cắt một tàu ngầm Type VIIC

Phân lớp VIIC của Tàu ngầm Type VII là một phiên bản VIIB được kéo dài thêm. Chúng có trọng lượng choán nước 769 t (757 tấn Anh) khi nổi và 871 t (857 tấn Anh) khi lặn).[4] Con tàu có chiều dài chung 67,10 m (220 ft 2 in), lớp vỏ trong chịu áp lực dài 50,50 m (165 ft 8 in), mạn tàu rộng 6,20 m (20 ft 4 in), chiều cao 9,60 m (31 ft 6 in) và mớn nước 4,74 m (15 ft 7 in).[4]

Chúng trang bị hai động cơ diesel Germaniawerft F46 siêu tăng áp 6-xy lanh 4 thì, tổng công suất 2.800–3.200 PS (2.100–2.400 kW; 2.800–3.200 bhp), dẫn động hai trục chân vịt đường kính 1,23 m (4,0 ft), cho phép đạt tốc độ tối đa 17,7 kn (32,8 km/h), và tầm hoạt động tối đa 8.500 nmi (15.700 km) khi đi tốc độ đường trường 10 kn (19 km/h). Khi đi ngầm dưới nước, chúng sử dụng hai động cơ/máy phát điện Garbe, Lahmeyer & Co. RP 137/c tổng công suất 750 PS (550 kW; 740 shp). Tốc độ tối đa khi lặn là 7,6 kn (14,1 km/h), và tầm hoạt động 80 nmi (150 km) ở tốc độ 4 kn (7,4 km/h). Con tàu có khả năng lặn sâu đến 230 m (750 ft).[4]

Vũ khí trang bị có năm ống phóng ngư lôi 53,3 cm (21 in), bao gồm bốn ống trước mũi và một ống phía đuôi, và mang theo tổng cộng 14 quả ngư lôi, hoặc tối đa 22 quả thủy lôi TMA, hoặc 33 quả TMB. Tàu ngầm Type VIIC bố trí một hải pháo 8,8 cm SK C/35 cùng một pháo phòng không 2 cm (0,79 in) trên boong tàu. Thủy thủ đoàn bao gồm 4 sĩ quan và 40-56 thủy thủ.[4]

Chế tạo

U-617 được đặt hàng vào ngày 15 tháng 8, 1940,[1] và được đặt lườn tại xưởng tàu của hãng Blohm & Voss ở Hamburg vào ngày 31 tháng 5, 1941.[1] Nó được hạ thủy vào ngày 14 tháng 2, 1942,[1] và nhập biên chế cùng Hải quân Đức Quốc Xã vào ngày 9 tháng 4, 1942[1] dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Đại úy Hải quân Albrecht Brandi.[1]

Lịch sử hoạt động

1942

Sau khi hoàn tất việc huấn luyện trong thành phần Chi hạm đội U-boat 5, U-617 được điều sang Chi hạm đội U-boat 7 từ ngày 1 tháng 9, 1942 để hoạt động trên tuyến đầu, rồi được điều sang Chi hạm đội U-boat 29 từ ngày 1 tháng 12, 1942 để hoạt động tại Địa Trung Hải cho đến khi bị mất.[1]

Chuyến tuần tra thứ nhất

U-617 khởi hành từ cảng Kiel, Đức vào ngày 29 tháng 8, 1942 cho chuyến tuần tra đầu tiên trong chiến tranh. Nó tiến ra Bắc Hải, rồi băng qua khe GI-UK giữa Iceland và quần đảo Faroe để vòng qua quần đảo Anh và hoạt động tại khu vực Trung tâm Bắc Đại Tây Dương.[5] Trên đường đi ở vị trí về phía Nam Iceland vào ngày 7 tháng 9, nó phóng ngư lôi đánh chìm chiếc tàu đánh cá Faroe Tor II 292 GRT ở vị trí khoảng 70 nmi (130 km) về phía Đông Nam Vestmannaeyjar.[6]

Đến ngày 23 tháng 9, chiếc U-boat tấn công Đoàn tàu SC-100, và đã đánh chìm chiếc tàu chở dầu Anh Athelsultan 8.882 GRT lúc 00 giờ 19 phút,[7] và tàu buôn Anh Tennessee 2.342 GRT lúc 01 giờ 42 phút ở vị trí về phía Đông Nam mũi Farewell, Greenland.[8] Sang ngày hôm sau 24 tháng 9, nó lại đánh chìm chiếc tàu buôn Bỉ Roumanie 3.563 GRT, vốn bị tụt lại phía sau Đoàn tàu SC-100, ở vị trí khoảng 280 nmi (520 km) về phía Tây Nam Iceland.[9]

Chiếc tàu ngầm kết thúc chuyến tuần tra và đi đến cảng St. Nazaire bên bờ Đại Tây Dương của Pháp đã bị Đức chiếm đóng, đến nơi vào ngày 7 tháng 10.[3]

Chuyến tuần tra thứ hai

U-617 xuất phát từ St. Nazaire vào ngày 2 tháng 11 cho chuyến tuần tra thứ hai với nhiệm vụ chuyển sang hoạt động tại khu vực Địa Trung Hải. Nó thành công trong việc băng qua eo biển Gibraltar được lực lượng Đồng Minh canh phòng nghiêm ngặt vào ngày 8 tháng 11, và đi đến căn cứ hoạt động mới tại cảng La Spezia, Ý vào ngày 28 tháng 11.[10]

1943

Chuyến tuần tra thứ ba

Rời cảng La Spezia vào ngày 21 tháng 12, 1942 cho chuyến tuần tra thứ ba, U-617 băng qua eo biển Messina giữa bán đảo Ý và đảo Sicilia để hoạt động tại vùng biển ngoài khơi Benghazi, Libya.[11] Tại đây vào ngày 28 tháng 12, nó phóng ngư lôi đánh chìm chiếc tàu kéo Anh HMS St Issey (W25) 810 GRT ở vị trí ngoài khơi Benghazi.[12] Đến ngày 15 tháng 1, 1943, nó lại phóng ngư lôi tấn công một đoàn tàu vận tải nhỏ di chuyển dọc bờ biển Libya, đánh chìm được tàu buôn Hy Lạp Annitsa 4.324 GRT,[13] và tàu buôn Na Uy Harboe Jensen 1.862 GRT.[14] Chiếc U-boat kết thúc chuyến tuần tra và đi đến đảo Salamis, Hy Lạp vào ngày 17 tháng 1, 1943.[3]

Chuyến tuần tra thứ tư

U-617 khởi hành từ Salamis vào ngày 27 tháng 1 cho chuyến tuần tra thứ tư, và đã hoạt động tại khu vực Đông Địa Trung Hải ngoài khơi Libya và Ai Cập.[15] Tại đây vào ngày 1 tháng 2, nó phóng một loạt ngư lôi đánh chìm tàu rải mìn HMS Welshman (2.650 tấn) ở vị trí khoảng 45 nmi (83 km) về phía Đông Bắc Tobruk, Libya.[16] Đến ngày 5 tháng 2, nó lại phóng ngư lôi tấn công Đoàn tàu AW-22, đánh chìm các tàu buôn Na Uy Corona 3.264 GRT [17]Henrik 1.350 GRT ở vị trí khoảng 30 nmi (56 km) về phía Đông Bắc Tobruk.[18] Kết thúc chuyến tuần tra, U-617 đi đến cảng Pola, Ý (nay là Pula thuộc Croatia) vào ngày 13 tháng 2.[3]

Chuyến tuần tra thứ năm và thứ sáu

Rời căn cứ Pola vào ngày 25 tháng 3, U-617 lại băng qua eo biển Messina để hoạt động dọc bờ biển Bắc Phi ngoài khơi Algérie. Nó kết thúc chuyến tuần tra tại Toulon vào ngày 17 tháng 4.[19]

Chiếc U-boat tiếp tục hoạt động tại khu vực này trong chuyến tuần tra tiếp theo, cùng xuất phát và kết thúc tại căn cứ Toulon và kéo dài từ ngày 19 tháng 6 đến ngày 20 tháng 7.[20]

Chuyến tuần tra thứ bảy – Bị mất

U-617 rời cảng Toulon vào ngày 28 tháng 8 cho chuyến tuần tra thứ bảy, cũng là chuyến cuối cùng, để lại hoạt động dọc bờ biển Bắc Phi ngoài khơi Algérie.[21] Tại đây vào ngày 6 tháng 9, nó phóng bốn quả ngư lôi tấn công và đánh chìm được chiếc tàu khu trục hộ tống Anh HMS Puckeridge (1.050 tấn) ở vị trí khoảng 40 nmi (74 km) về phía Đông Gibraltar.[22]

Đến 01 giờ 50 phút ngày 12 tháng 9, U-617 bị một máy bay ném bom Vickers Wellington trang bị đèn Leigh thuộc Liên đội 179 Không quân Hoàng gia Anh (RAF) thả mìn sâu tấn công trong Địa Trung Hải ngoài khơi Maroc, rồi tiếp tục bị một chiếc Wellington khác xuất phát từ Gibraltar tấn công. U-617 bị hư hại nặng và bị mắc cạn gần Mellila, Maroc. Toàn bộ 49 thành viên thủy thủ đoàn của U-617 đều bỏ tàu an toàn, và bị giới chức Tây Ban Nha bắt giữ, nhưng sau đó được cho hồi hương về Đức.[1]

Xác tàu đắm của U-617 tiếp tục bị những máy bay Lockheed Hudson thuộc các liên đội 48 và 233 RAF cùng hai máy bay ném bom-ngư lôi Fairey Swordfish thuộc các liên đội 833 và 886 Không lực Hải quân Hoàng gia tấn công. Cuối cùng hải pháo từ tàu corvette Anh HMS Hyacinth và tàu corvette Australia HMAS Wollongong đã đánh chìm U-617 tại tọa độ 35°38′B 03°27′T / 35,633°B 3,45°T / 35.633; -3.450[1]

"Bầy sói" tham gia

U-617 từng tham gia năm bầy sói:

  • Pfeil (12 – 22 tháng 9, 1942)
  • Blitz (22 – 26 tháng 9, 1942)
  • Tiger (26 – 30 tháng 9, 1942)
  • Delphin (4 – 10 tháng 11, 1942)
  • Wal (10 – 15 tháng 11, 1942)

Tóm tắt chiến công

U-617 đã đánh chìm được tám tàu buôn tổng tải trọng 25.879 GRT, hai tàu chiến tổng tải trọng 3.700 tấn, cùng một tàu chiến phụ trợ tải trọng 810 GRT:

NgàyTên tàuQuốc tịchTải trọng[Ghi chú 1]Số phận[23][24]
7 tháng 9, 1942Tor IIBản mẫu:Country data Faeroes292Bị đánh chìm
23 tháng 9, 1942Athelsultan United Kingdom8.882Bị đánh chìm
23 tháng 9, 1942Tennessee United Kingdom2.342Bị đánh chìm
24 tháng 9, 1942Roumanie Belgium3.563Bị đánh chìm
28 tháng 12, 1942HMS St Issey Hải quân Hoàng gia Anh810Bị đánh chìm
15 tháng 1, 1943Annitsa Greece4.324Bị đánh chìm
15 tháng 1, 1943Harboe Jensen Norway1.862Bị đánh chìm
1 tháng 2, 1943HMS Welshman Hải quân Hoàng gia Anh2.650Bị đánh chìm
5 tháng 2, 1943Corona Norway3.264Bị đánh chìm
5 tháng 2, 1943Henrik Norway1.350Bị đánh chìm
6 tháng 9, 1943HMS Puckeridge Hải quân Hoàng gia Anh1.050Bị đánh chìm

Xem thêm

  • Chiến dịch U-boat Địa Trung Hải (Thế Chiến II)

Tham khảo

Ghi chú

  1. Tàu buôn theo tấn đăng ký toàn phần. Tàu quân sự theo trọng lượng choán nước.

Chú thích

  1. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Helgason, Guðmundur. "The Type VIIC U-boat U-617". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2025.
  2. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 Helgason, Guðmundur. "Type VIIC". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2025.
  3. 1 2 3 4 Helgason, Guðmundur. "War Patrols by German U-boat U-617". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2025.
  4. 1 2 3 4 Gröner, Jung & Maass 1991, tr. 43–46.
  5. Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-617 (first patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2025.
  6. Helgason, Guðmundur. "Tor II – Faroese Steam trawler". Ships hit by U-boats – uboat.net. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2025.
  7. Helgason, Guðmundur. "Athelsultan – British Motor tanker". Ships hit by U-boats – uboat.net. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2025.
  8. Helgason, Guðmundur. "Tennessee – British Steam merchant". Ships hit by U-boats – uboat.net. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2025.
  9. Helgason, Guðmundur. "Roumanie – Belgian Steam merchant". Ships hit by U-boats – uboat.net. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2025.
  10. Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-617 (second patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2025.
  11. Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-617 (third patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2025.
  12. Helgason, Guðmundur. "HMS St Issey (W 25) – British Steam tug". Ships hit by U-boats – uboat.net. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2025.
  13. Helgason, Guðmundur. "Annitsa – Grrek Steam merchant". Ships hit by U-boats – uboat.net. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2025.
  14. Helgason, Guðmundur. "Harboe Jensen – Norwegian Motor merchant". Ships hit by U-boats – uboat.net. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2025.
  15. Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-617 (fourth patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2025.
  16. Helgason, Guðmundur. "HMS Welshman (M 84) – British Cruiser-minelayer". Ships hit by U-boats – uboat.net. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2025.
  17. Helgason, Guðmundur. "Corona – Norwegian Steam merchant". Ships hit by U-boats – uboat.net. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2025.
  18. Helgason, Guðmundur. "Henrik – Norwegian Steam merchant". Ships hit by U-boats – uboat.net. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2025.
  19. Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-617 (fifth patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2025.
  20. Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-617 (sixth patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2025.
  21. Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-617 (seventh patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2025.
  22. Helgason, Guðmundur. "HMS Puckeridge (L 108) – British Destroyer". Ships hit by U-boats – uboat.net. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2025.
  23. Busch & Röll (2001), tr. 268–270.
  24. Helgason, Guðmundur. "Ships hit by U-617". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2025.

Thư mục

  • Busch, Rainer; Röll, Hans-Joachim (1999). German U-boat commanders of World War II : a biographical dictionary. Brooks, Geoffrey biên dịch. London, Annapolis, Maryland: Greenhill Books, Naval Institute Press. ISBN 1-55750-186-6.
  • Busch, Rainer; Röll, Hans-Joachim (1999). Deutsche U-Boot-Verluste von September 1939 bis Mai 1945 [German U-boat losses from September 1939 to May 1945]. Der U-Boot-Krieg (bằng tiếng Đức). Quyển IV. Hamburg, Berlin, Bonn: Mittler. ISBN 3-8132-0514-2.
  • Busch, Rainer; Röll, Hans-Joachim (2001). Der U-Boot-Krieg, 1939-1945: Deutsche U-Boot-Verluste von September 1939 bis Mai 1945 [German U-boat successes from September 1939 to May 1945] (bằng tiếng Đức). Quyển III. Hamburg: Mittler & Sohn. ISBN 3813205134.
  • Gröner, Erich; Jung, Dieter; Maass, Martin (1991). U-boats and Mine Warfare Vessels. German Warships 1815–1945. Quyển 2. Thomas, Keith; Magowan, Rachel biên dịch. London: Conway Maritime Press. ISBN 0-85177-593-4.
  • Kemp, Paul (1997). U-Boats Destroyed - German Submarine Losses in the World Wars. Arms & Armour. ISBN 1-85409-515-3.
  • Neistlé, Axel (2014). German U-Boat Losses during World War II: Details of Destruction (ấn bản thứ 2). Havertown: Frontline Books. ISBN 978-1848322103.
  • Sharpe, Peter (1998). U-Boat Fact File: Detailed Service Histories of the Submarines Operated by the Kriegsmarine 1935-1945. Leicester: Midland Publishing. ISBN 1-85780-072-9.

Liên kết ngoài

  • Helgason, Guðmundur. "The Type VIIC boat U-617". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2025.
  • Hofmann, Markus. "U 617". Deutsche U-Boote 1935-1945 - u-boot-archiv.de (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2025.