U-757 (tàu ngầm Đức)
Tàu ngầm U-boat Type VIIC | |
| Lịch sử | |
|---|---|
| Tên gọi | U-757 |
| Đặt hàng | 9 tháng 10, 1939 |
| Xưởng đóng tàu | Kriegsmarinewerft, Wilhelmshaven |
| Số hiệu xưởng đóng tàu | 140 |
| Đặt lườn | 18 tháng 5, 1940 |
| Hạ thủy | 14 tháng 12, 1941 |
| Nhập biên chế | 28 tháng 2, 1942 |
| Tình trạng | Bị các tàu chiến Anh và Canada đánh chìm trong Đại Tây Dương, 8 tháng 1, 1944 [1] |
| Đặc điểm khái quát | |
| Lớp tàu | Tàu ngầm Type VIIC |
| Trọng tải choán nước | |
| Chiều dài | |
| Sườn ngang | |
| Chiều cao | 9,60 m (31 ft 6 in) [2] |
| Mớn nước | 4,74 m (15 ft 7 in) [2] |
| Công suất lắp đặt | |
| Động cơ đẩy |
|
| Tốc độ |
|
| Tầm xa | |
| Độ sâu thử nghiệm |
|
| Thủy thủ đoàn tối đa | 4 sĩ quan, 40-56 thủy thủ |
| Hệ thống cảm biến và xử lý | Gruppenhorchgerät |
| Vũ khí | |
| Thành tích phục vụ[1][3] | |
| Một phần của: |
|
| Mã nhận diện: | M 39 567 |
| Chỉ huy: |
|
| Chiến dịch: |
|
| Chiến thắng: |
|
U-757 là một tàu ngầm tấn công Lớp Type VII thuộc phân lớp Type VIIC được Hải quân Đức Quốc Xã chế tạo trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nhập biên chế năm 1942, nó đã thực hiện được năm chuyến tuần tra, đánh chìm được hai tàu buôn với tổng tải trọng 11.313 GRT cùng một tàu chiến tải trọng 291 tấn. Trong chuyến tuần tra cuối cùng, U-757 bị các tàu frigate Anh HMS Bayntun và tàu corvette Canada HMCS Camrose thả mìn sâu đánh chìm trong Đại Tây Dương về phía Tây Nam Ireland vào ngày 8 tháng 1, 1944.
Thiết kế và chế tạo
Thiết kế

Phân lớp VIIC của Tàu ngầm Type VII là một phiên bản VIIB được kéo dài thêm. Chúng có trọng lượng choán nước 769 t (757 tấn Anh) khi nổi và 871 t (857 tấn Anh) khi lặn).[4] Con tàu có chiều dài chung 67,10 m (220 ft 2 in), lớp vỏ trong chịu áp lực dài 50,50 m (165 ft 8 in), mạn tàu rộng 6,20 m (20 ft 4 in), chiều cao 9,60 m (31 ft 6 in) và mớn nước 4,74 m (15 ft 7 in).[4]
Chúng trang bị hai động cơ diesel Germaniawerft F46 siêu tăng áp 6-xy lanh 4 thì, tổng công suất 2.800–3.200 PS (2.100–2.400 kW; 2.800–3.200 bhp), dẫn động hai trục chân vịt đường kính 1,23 m (4,0 ft), cho phép đạt tốc độ tối đa 17,7 kn (32,8 km/h), và tầm hoạt động tối đa 8.500 nmi (15.700 km) khi đi tốc độ đường trường 10 kn (19 km/h). Khi đi ngầm dưới nước, chúng sử dụng hai động cơ/máy phát điện Garbe, Lahmeyer & Co. RP 137/c tổng công suất 750 PS (550 kW; 740 shp). Tốc độ tối đa khi lặn là 7,6 kn (14,1 km/h), và tầm hoạt động 80 nmi (150 km) ở tốc độ 4 kn (7,4 km/h). Con tàu có khả năng lặn sâu đến 230 m (750 ft).[4]
Vũ khí trang bị có năm ống phóng ngư lôi 53,3 cm (21 in), bao gồm bốn ống trước mũi và một ống phía đuôi, và mang theo tổng cộng 14 quả ngư lôi, hoặc tối đa 22 quả thủy lôi TMA, hoặc 33 quả TMB. Tàu ngầm Type VIIC bố trí một hải pháo 8,8 cm SK C/35 cùng một pháo phòng không 2 cm (0,79 in) trên boong tàu. Thủy thủ đoàn bao gồm 4 sĩ quan và 40-56 thủy thủ.[4]
Chế tạo
U-757 được đặt hàng vào ngày 9 tháng 10, 1939,[1] và được đặt lườn tại xưởng tàu Kriegsmarinewerft ở Wilhelmshaven vào ngày 18 tháng 5, 1940.[1] Nó được hạ thủy vào ngày 14 tháng 12, 1941,[1] và nhập biên chế cùng Hải quân Đức Quốc Xã vào ngày 28 tháng 2, 1942[1] dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Trung úy Hải quân Friedrich Deetz.[1]
Lịch sử hoạt động
Sau khi hoàn tất việc huấn luyện trong thành phần Chi hạm đội U-boat 6, U-757 tiếp tục nằm trong thành phần đơn vị này để hoạt động trên tuyến đầu cho đến khi bị mất.[1]
1942
Chuyến tuần tra thứ nhất
Vào giữa tháng 9, 1942, U-757 đã di chuyển từ từ cảng Kiel, Đức lần lượt đến các cảng Kristiansand và Bergen, Na Uy.[3] Nó xuất phát từ Bergen vào ngày 26 tháng 9 cho chuyến tuần tra đầu tiên trong chiến tranh, và đã băng qua khe GI-UK giữa các quần đảo Shetland và Faroe để vòng qua quần đảo Anh và hoạt động tại khu vực giữa Bắc Đại Tây Dương. Chiếc U-boat kết thúc chuyến tuần tra và đi đến cảng St. Nazaire bên bờ Đại Tây Dương của Pháp vào ngày 24 tháng 10.[5] St. Nazaire trở thành căn cứ hoạt động chính của chiếc tàu ngầm cho đến khi nó bị mất.[3]
Chuyến tuần tra thứ hai
Chuyến tuần tra ngắn tiếp theo của U-757, cùng xuất phát và kết thúc từ cảng St. Nazaire, chỉ kéo dài từ ngày 12 đến ngày 25 tháng 12. Chiếc tàu ngầm đã hoạt động trong vùng biển Bắc Đại Tây Dương về phía Tây vịnh Biscay, nhưng đã không đánh chìm được mục tiêu nào.[6]
1943
Chuyến tuần tra thứ ba
U-757 khởi hành từ St. Nazaire từ ngày 22 tháng 2, 1943 cho chuyến tuần tra thứ ba, và đã hoạt động tại khu vực giữa Bắc Đại Tây Dương.[7] Tại đây vào ngày 11 tháng 3, nó bắt gặp và phóng ngư lôi tấn công Đoàn tàu HX-228, đánh chìm chiếc tàu Liberty Hoa Kỳ William C. Gorgas 7.197 GRT[8] cùng với xuồng đổ bộ Anh HMS LCT-2398 (291 tấn) được chiếc tàu buôn Hoa Kỳ vận chuyển trên boong.[9] Tuy nhiên chiếc tàu ngầm cũng bị hư hại đáng kể do hỏa lực của các tàu hộ tống cho đoàn tàu vận tải.[7] Trong chặng quay trở về căn cứ, U-757 cùng với tàu ngầm U-359 bị một máy bay ném bom B-24 Liberator Đồng Minh tấn công ở vị trí về phía Tây vịnh Biscay, nhưng nó thoát được mà không chịu thêm thiệt hại.[7] Nó về đến căn cứ St. Nazaire vào ngày 18 tháng 3.[3]
Chuyến tuần tra thứ tư
U-757 xuất phát từ St. Nazaire vào ngày 7 tháng 7 cho chuyến tuần tra thứ tư, và đã hướng xuống phía Nam Đại Tây Dương để hoạt động dọc theo bờ biển Tây Phi cho đến tận ngoài khơi Monrovia, Liberia.[10] Trong chặng đi vào ngày 14 tháng 7, nó bị một máy bay ném bom B-24 Liberator thuộc Liên đội Chống ngầm 2 Không lực Lục quân Hoa Kỳ thả mìn sâu tấn công ở vị trí về phía Tây Bắc Lisbon, Bồ Đào Nha. Hỏa lực phòng không của chiếc tàu ngầm đã bắn trúng và gây hư hại đáng kể cho chiếc B-24, nhưng bản thân nó cũng chịu hư hại.[10]
Đến ngày 7 tháng 8, chiếc U-boat phóng ngư lôi tấn công và đánh chìm chiếc tàu buôn Na Uy Fernhill 4.116 GRT, vốn đã phân tán khỏi Đoàn tàu OS-52, ở vị trí khoảng 300 nmi (560 km) về phía Tây Siera Leone.[11] Chỉ bốn ngày sau đó, chiếc tàu ngầm bị một thủy phi cơ PBY Catalina thuộc Liên đội 490 Không quân Hoàng gia New Zealand thả mìn sâu tấn công ở vị trí khoảng 230 nmi (430 km) về phía Tây Nam Dakar, Sénégal. Chiếc tàu ngầm đã thoát được mà không bị hư hại,[10] và về đến căn cứ St. Nazaire vào ngày 4 tháng 9.[3]
1944
Chuyến tuần tra thứ năm – Bị mất
Từ cuối tháng 10 đến đầu tháng 12, 1943, U-757 thực hiện nhiều chuyến đi ngắn từ căn cứ St. Nazaire.[3] Nó xuất phát từ đây vào ngày 29 tháng 12 cho chuyến tuần tra thứ năm, cũng là chuyến cuối cùng, để hoạt động trong Đại Tây Dương về phía Tây Nam Ireland.[12] Tại đây vào ngày 8 tháng 1, 1944, U-757 bị các tàu frigate HMS Bayntun của Hải quân Hoàng gia Anh và tàu corvette HMCS Camrose của Hải quân Hoàng gia Canada thả mìn sâu đánh chìm tại tọa độ 50°33′B 18°03′T / 50,55°B 18,05°T.[1] Toàn bộ 49 thành viên thủy thủ đoàn của U-757 đều đã tử trận.[1]
"Bầy sói" tham gia
U-757 từng tham gia năm bầy sói:
- Panther (6 – 10 tháng 10, 1942)
- Neuland (4 – 12 tháng 3, 1943)
- Không tên (11 – 29 tháng 7, 1943)
- Rügen 5 (6 – 7 tháng 1, 1944)
- Rügen (7 – 8 tháng 1, 1944)
Tóm tắt chiến công
U-757 đã đánh chìm được hai tàu buôn với tổng tải trọng 11.313 GRT cùng một tàu chiến tải trọng 291 tấn:
| Ngày | Tên tàu | Quốc tịch | Tải trọng[Ghi chú 1] | Số phận[13] |
|---|---|---|---|---|
| 11 tháng 3, 1943 | William C. Gorgas | 7.197 | Bị đánh chìm | |
| 11 tháng 3, 1943 | HMS LCT-2398[Ghi chú 2] | 291 | Bị đánh chìm | |
| 7 tháng 8, 1943 | Fernhill | 4.116 | Bị đánh chìm |
Xem thêm
Tham khảo
Ghi chú
- ↑ Tàu buôn theo tấn đăng ký toàn phần. Tàu quân sự theo trọng lượng choán nước.
- ↑ Được William C. Gorgas vận chuyển.
Chú thích
- 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Helgason, Guðmundur. "The Type VIIB U-boat U-757". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2025.
- 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 Helgason, Guðmundur. "Type VIIC". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2025.
- 1 2 3 4 5 6 Helgason, Guðmundur. "War Patrols by German U-boat U-757". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2025.
- 1 2 3 4 Gröner, Jung & Maass 1991, tr. 43–46.
- ↑ Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-757 (first patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2025.
- ↑ Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-757 (second patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2025.
- 1 2 3 Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-757 (third patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2025.
- ↑ Helgason, Guðmundur. "William C. Gorgas – American Steam merchant". Ships hit by U-boats - uboat.net. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2025.
- ↑ Helgason, Guðmundur. "HMS LCT-2398 – British Landing craft". Ships hit by U-boats - uboat.net. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2025.
- 1 2 3 Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-757 (fourth patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2025.
- ↑ Helgason, Guðmundur. "Fernhill – Norwegian Motor merchant". Ships hit by U-boats - uboat.net. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2025.
- ↑ Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-757 (fifth patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2025.
- ↑ Helgason, Guðmundur. "Ships hit by U-757". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2025.
Thư mục
- Busch, Rainer; Röll, Hans-Joachim (1999). German U-boat commanders of World War II : a biographical dictionary. Brooks, Geoffrey biên dịch. London, Annapolis, Maryland: Greenhill Books, Naval Institute Press. ISBN 1-55750-186-6.
- Busch, Rainer; Röll, Hans-Joachim (1999). Deutsche U-Boot-Verluste von September 1939 bis Mai 1945 [German U-boat losses from September 1939 to May 1945]. Der U-Boot-Krieg (bằng tiếng Đức). Quyển IV. Hamburg, Berlin, Bonn: Mittler. ISBN 3-8132-0514-2.
- Edwards, Bernard (1996). Dönitz and the Wolf Packs – The U-boats at War. Cassell Military Classics. tr. 173. ISBN 0-304-35203-9.
- Gröner, Erich; Jung, Dieter; Maass, Martin (1991). U-boats and Mine Warfare Vessels. German Warships 1815–1945. Quyển 2. Thomas, Keith; Magowan, Rachel biên dịch. London: Conway Maritime Press. ISBN 0-85177-593-4.
- Kemp, Paul (1999). U-Boats Destroyed - German Submarine Losses in the World Wars. W & N. ISBN 978-1854095152.
- Neistlé, Axel (2014). German U-Boat Losses during World War II: Details of Destruction (ấn bản thứ 2). Havertown: Frontline Books. ISBN 978-1848322103.
- Sharpe, Peter (1998). U-Boat Fact File: Detailed Service Histories of the Submarines Operated by the Kriegsmarine 1935-1945. Leicester: Midland Publishing. ISBN 1-85780-072-9.
Liên kết ngoài
- Helgason, Guðmundur. "The Type VIIC boat U-757". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2025.
- Tàu ngầm Type VII
- Tàu ngầm của Hải quân Đức trong Thế Chiến II
- U-boat bị đánh chìm bởi mìn sâu
- U-boat bị tàu chiến Anh đánh chìm
- U-boat bị tàu chiến Canada đánh chìm
- Xác tàu đắm trong Thế chiến II tại Đại Tây Dương
- Sự cố hàng hải năm 1944
- Tàu thủy năm 1941