Array
(
    [0] => 
[1] => Thiết_kế_và_chế_tạo )
U-1105 (tàu ngầm Đức) – Wiki Scholarship
Bước tới nội dung

U-1105 (tàu ngầm Đức)

U-995, một chiếc Type VIIC/41 tiêu biểu, hiện là tàu bảo tàng tại Laboe, Đức
Lịch sử
Đức Quốc Xã
Tên gọiU-1105
Đặt hàng14 tháng 10, 1941
Xưởng đóng tàuNordseewerke, Emden
Số hiệu xưởng đóng tàu227
Đặt lườn6 tháng 7, 1943
Hạ thủy20 tháng 4, 1944
Nhập biên chế3 tháng 6, 1944
Tình trạngĐầu hàng, 10 tháng 5, 1945 [1]
Anh Quốc
Tên gọiN-16
Trưng dụng10 tháng 5, 1945
Nhập biên chế29 tháng 6, 1945
Ngừng hoạt động11 tháng 2, 1946
Biệt danhBlack Panther
Số phậnChuyển cho Hoa Kỳ, 1946
Hoa Kỳ
Tên gọiU-1105
Trưng dụng1946
Số phậnBị đánh đắm, 19 tháng 9, 1949
Đặc điểm khái quát
Lớp tàuTàu ngầm Type VIIC/41
Trọng tải choán nước
Chiều dài
  • 67,10 m (220 ft 2 in) (chung) [2]
  • 50,50 m (165 ft 8 in) (lườn áp lực) [2]
Sườn ngang
  • 6,20 m (20 ft 4 in) (chung) [2]
  • 4,70 m (15 ft 5 in) (lườn áp lực) [2]
Chiều cao9,60 m (31 ft 6 in) [2]
Mớn nước4,74 m (15 ft 7 in) [2]
Công suất lắp đặt
  • 2.800–3.200 PS (2.100–2.400 kW; 2.800–3.200 shp) (diesel) [2]
  • 750 PS (550 kW; 740 shp) (điện) [2]
Động cơ đẩy
Tốc độ
Tầm xa
  • 8.500 hải lý (15.700 km; 9.800 mi) ở tốc độ 10 hải lý trên giờ (19 km/h; 12 mph) (nổi) [2]
  • 80 hải lý (150 km; 92 mi) ở tốc độ 4 hải lý trên giờ (7,4 km/h; 4,6 mph) (lặn) [2]
Độ sâu thử nghiệm
  • 250 m (820 ft) [2]
  • 275–325 m (902–1.066 ft) (độ sâu ép vỡ tính toán)
Thủy thủ đoàn tối đa4 sĩ quan, 40-56 thủy thủ
Vũ khí
  • 5 × ống phóng ngư lôi 53,3 cm (21 in) [2]
    • (4 × trước mũi, 1 × phía đuôi)
    • 14 × ngư lôi
  • 1 × Hải pháo 8,8 cm SK C/35, với 220 quả đạn [2]
  • 1 × pháo phòng không 3,7 cm (1,5 in) Flak M42 [2]
  • 2 × pháo phòng không 2 cm (0,79 in) C/30 [2]
Thành tích phục vụ (Đức Quốc Xã)[1][3]
Một phần của:
  • Chi hạm đội U-boat 8
  • 3 tháng 6, 1944 – 15 tháng 2, 1945
  • Chi hạm đội U-boat 5
  • 16 tháng 2 – 8 tháng 5, 1945
Mã nhận diện:M 50 444
Chỉ huy:
  • Trung úy Hans-Joachim Schwarz
  • 3 tháng 6, 1944 – 10 tháng 5, 1945
Chiến dịch:
  • 1 chuyến tuần tra:
  • 12 tháng 4 – 10 tháng 5, 1945
Chiến thắng:1 tàu chiến tổn thất toàn bộ
(1.300 tấn)
U-1105 BLACK Panther (tàu ngầm Đức Type VIIC)
Thành phố gần nhấtPiney Point, Maryland
Tọa độ38°8′10″B 76°33′10″T / 38,13611°B 76,55278°T / 38.13611; -76.55278
Xây/Thành lập1944
Kiến trúc sưXưởng tàu Nordseewerke
Kiểu kiến trúcTàu ngầm Type VIIC
Số NRHP #00001602[4]
Đưa vào NRHP11 tháng 1, 2001

U-1105 là một tàu ngầm tấn công Lớp Type VII thuộc phân lớp Type VIIC/41 được Hải quân Đức Quốc Xã chế tạo trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nhập biên chế năm 1944, nó chỉ thực hiện được một chuyến tuần tra duy nhất và gây tổn thất toàn bộ cho một tàu chiến tải trọng 1.300 tấn. U-1105 sống sót qua Thế Chiến II, đầu hàng lực lượng Đồng Minh tại Loch Eriboll, Scotland vào ngày 10 tháng 5, 1945. Nó được Hải quân Anh sử dụng như là chiếc N-16 (biệt danh Black Panther) cho đến tháng 2, 1946, rồi chuyển cho Hải quân Hoa Kỳ và hoạt động dưới tên gọi ban đầu U-1105 cho đến khi bị đánh đắm ngoài khơi Maryland vào tháng 9, 1949. Địa điểm xác tàu đắm ngày nay được công nhận là một Di tích Lịch sử Quốc gia Hoa Kỳ.

Thiết kế và chế tạo

Thiết kế

Mặt cắt của một tàu ngầm Type VIIC

Phân lớp VIIC/41 của Tàu ngầm Type VII là một phiên bản VIIC được cải tiến nhẹ có trọng ượng chung nhẹ hơn. Chúng có trọng lượng choán nước 759 t (747 tấn Anh) khi nổi và 860 t (850 tấn Anh) khi lặn).[5] Con tàu có chiều dài chung 67,10 m (220 ft 2 in), lớp vỏ trong chịu áp lực dài 50,50 m (165 ft 8 in), mạn tàu rộng 6,20 m (20 ft 4 in), chiều cao 9,60 m (31 ft 6 in) và mớn nước 4,74 m (15 ft 7 in).[5]

Chúng trang bị hai động cơ diesel Germaniawerft F46 siêu tăng áp 6-xy lanh 4 thì, tổng công suất 2.800–3.200 PS (2.100–2.400 kW; 2.800–3.200 bhp), dẫn động hai trục chân vịt đường kính 1,23 m (4,0 ft), cho phép đạt tốc độ tối đa 17,7 kn (32,8 km/h), và tầm hoạt động tối đa 8.500 nmi (15.700 km) khi đi tốc độ đường trường 10 kn (19 km/h). Khi đi ngầm dưới nước, chúng sử dụng hai động cơ/máy phát điện Garbe, Lahmeyer & Co. RP 137/c tổng công suất 750 PS (550 kW; 740 shp). Tốc độ tối đa khi lặn là 7,6 kn (14,1 km/h), và tầm hoạt động 80 nmi (150 km) ở tốc độ 4 kn (7,4 km/h). Với lườn áp lực chắn chắn hơn, phân lớp VIIC/41 có khả năng lặn sâu đến 250 m (820 ft).[5]

Vũ khí trang bị có năm ống phóng ngư lôi 53,3 cm (21 in), bao gồm bốn ống trước mũi và một ống phía đuôi, và mang theo tổng cộng 14 quả ngư lôi, hoặc tối đa 22 quả thủy lôi TMA, hoặc 33 quả TMB. Tàu ngầm Type VIIC bố trí một hải pháo 8,8 cm SK C/35, một pháo phòng không 3,7 cm (1,5 in) Flak M42 cùng hai pháo phòng không 2 cm (0,79 in) trên boong tàu. Thủy thủ đoàn bao gồm 4 sĩ quan và 40-56 thủy thủ.[5]

U-1105 nằm trong số khoảng 10 tàu U-boat được trang bị một loại ngói cách âm do Hải quân Đức phát triển để làm giảm tín hiệu âm thanh tàu ngầm, nhằm đối phó với kỹ thuật dò âm sonar của lực lượng Đồng Minh. Chương trình phát triển này mang tên mã Alberich theo tên nhân vật phù thủy lùn trong thần thoại Đức.[6][7][8]

Chế tạo

U-1105 được đặt hàng vào ngày 14 tháng 10, 1941,[1] và được đặt lườn tại xưởng tàu của hãng Nordseewerke ở Emden vào ngày 6 tháng 7, 1943.[1] Nó được hạ thủy vào ngày 20 tháng 4, 1944,[1] và nhập biên chế cùng Hải quân Đức Quốc Xã vào ngày 3 tháng 6, 1944[1] dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Trung úy Hải quân Hans-Joachim Schwarz.[1]

Lịch sử hoạt động

U-1105 (Đức)

Sau khi hoàn tất việc huấn luyện trong thành phần Chi hạm đội U-boat 8 tại khu vực biển Baltic và hoàn thiện con tàu tại Wilhelmshaven, U-1105 được điều sang Chi hạm đội U-boat 5 từ ngày 16 tháng 2, 1945 để hoạt động trên tuyến đầu cho đến khi xung đột kết thúc.[1]

Vào đầu tháng 4, 1945, U-1105 di chuyển từ cảng Kiel, Đức lần lượt đến các cảng Horten và Marvika (phụ cận Kristiansand) cùng thuộc Na Uy,[3] rồi khởi hành từ Marvika vào ngày 12 tháng 4 cho chuyến tuần tra duy nhất trong chiến tranh. Nó đã tiến ra Bắc Hải, rồi băng qua khe GI-UK giữa các quần đảo ShetlandFaroe để vòng qua quần đảo Anh và hoạt động trong Bắc Đại Tây Dương về phía Tây Nam Ireland.[9]

U-1105 từng lẫn tránh được một tàu khu trục Đồng Minh đang tuần tra, rồi đến ngày 27 tháng 4 đã đụng độ với ba tàu chiến thuộc Đội hộ tống 21 Hải quân Hoàng gia Anh ở vị trí cách 25 nmi (46 km) về phía Tây County, Ireland. Nó phóng hai quả ngư lôi tấn công từ khoảng cách 2.000 yd (1.800 m), và đều đánh trúng tàu frigate Anh HMS Redmill. Redmill bị hư hại nặng nhưng tiếp tục nổi, và được tàu chị em HMS Rubert kéo quay trở về cảng Lisahally, Bắc Ireland, và là một tổn thất toàn bộ.[10][11]

Sau khi phóng ngư lôi, U-1105 lặn xuống đến độ sâu 100 m (330 ft) để ẩn nấp, và sau đó phải chìm đến tận đáy biển sâu 570 ft (170 m) trong suốt 31 giờ để né tránh sự truy lùng của tàu chiến Đồng Minh, và cuối cùng đã chạy thoát. Vào ngày 4 tháng 5, nó nhận được mệnh lệnh cuối cùng từ Đô đốc Karl Dönitz cho biết chiến tranh đã kết thúc, nên đã đầu hàng chính với Đội hộ tống 21, trước khi được một thủy phi cơ Short Sunderland thuộc Liên đội 201 Không quân Hoàng gia Anh áp giải đến căn cứ Đồng Minh tại Loch Eriboll, Scotland, nơi U-1105 chính thức đầu hàng lực lượng Đồng Minh vào ngày 10 tháng 5, 1945.[1][12]

N-16

Tiếp tục vận hành với thủy thủ đoàn là các tù binh chiến tranh Đức, chiếc tàu ngầm hoạt động cùng Hải quân Hoàng gia Anh như là chiếc N-16. Nó cùng các tàu ngầm U-boat khác đã đầu hàng được các tàu frigate và máy bay áp tải đến Lochalsh ngang qua North Minch , rồi đi đến Lisahally, Bắc Ireland. Với một thủy thủ đoàn bảo trì người Anh, con tàu ở lại Lisahally trong nhiều tháng trước khi được chuyển cho Hoa Kỳ như chiến lợi phẩm để nghiên cứu công nghệ.

U-1105 (Hoa Kỳ)

Dưới tên gọi ban đầu U-1105, chiếc tàu ngầm đi đến Portsmouth, New Hampshire vào năm 1946. Tại đây nó được các Phòng thí nghiệm Nghiên cứu Hải quân tại Washington, D.C., và Phòng thí nghiệm Âm học trực thuộc Viện Công nghệ Massachusetts (MIT) tại Cambridge, Massachusetts, thực hiện các nghiên cứu lớp vỏ bọc cách âm cao su độc đáo. Sau khi hoàn tất, nó được kéo đến đảo Solomons, Maryland để tiếp tục tham gia thử nghiệm chất nổ.

Các tàu kéo USS Salvager và USS Windlass đã kéo chiếc tàu ngầm đến vịnh Chesapeake, nơi nó tạm thời bị đánh chìm để thử nghiệm trục vớt và lai dắt nhiều lần từ tháng 8, 1946 cho đến năm 1949. Cuối cùng nó bị đánh chìm vĩnh viễn bằng mìn sâu ngoài khơi Piney Point, Maryland vào ngày 19 tháng 9, 1949. Xác tàu đắm nằm ở độ sâu 91 ft (28 m), tại tọa độ 38°08′10″B 76°33′10″T / 38,13611°B 76,55278°T / 38.13611; -76.55278.

Xác tàu đắm của U-1105 được tìm thấy vào năm 1985. Nơi đây được công nhận là một Di tích Lịch sử Quốc gia Hoa Kỳ từ năm 2001.[4]

Tóm tắt chiến công

U-1105 đã đánh chìm được tám tàu buôn tổng tải trọng 43.945 GRT và hai tàu chiến tổng tải trọng 22.947 tấn, đồng thời gây hư hại cho ba tàu buôn khác:

NgàyTên tàuQuốc tịchTải trọng[Ghi chú 1]Số phận[13]
27 tháng 4, 1945HMS Redmill Hải quân Hoàng gia Anh1.300Tổn thất toàn bộ

Xem thêm

Tham khảo

Ghi chú

  1. Tàu buôn theo tấn đăng ký toàn phần. Tàu quân sự theo trọng lượng choán nước.

Chú thích

  1. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 Helgason, Guðmundur. "The Type VIIC/41 U-boat U-1105". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2025.
  2. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 Helgason, Guðmundur. "Type VIIC/41". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2025.
  3. 1 2 Helgason, Guðmundur. "War Patrols by German U-boat U-1105". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2025.
  4. 1 2 "Hệ thống Thông tin Sổ bộ Quốc gia". Sổ bộ Địa danh Lịch sử Quốc gia Hoa Kỳ. Cục Công viên Quốc gia Hoa Kỳ. ngày 9 tháng 7 năm 2010.
  5. 1 2 3 4 Gröner, Jung & Maass 1991, tr. 43–46.
  6. "Recubrimiento Anti-Sonar". u-historia.com. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2010.
  7. Wynn (1998).
  8. Rössler (2006).
  9. Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-1105 (first patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2025.
  10. Helgason, Guðmundur. "HMD Redmill (K 554) - British Frigate". Ships hit by U-boats - uboat.net. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2025.
  11. Naval Historical Center. "Redmil (DE-89)". Dictionary of American Naval Fighting Ships. Navy Department, Naval History and Heritage Command.
  12. "1952 - 1046 - Flight Archive". Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2016.
  13. Helgason, Guðmundur. "Ships hit by U-1105". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2025.

Thư mục

  • Busch, Rainer; Röll, Hans-Joachim (1999). German U-boat commanders of World War II : a biographical dictionary. Brooks, Geoffrey biên dịch. London, Annapolis, Maryland: Greenhill Books, Naval Institute Press. ISBN 1-55750-186-6.
  • Busch, Rainer; Röll, Hans-Joachim (1999). Deutsche U-Boot-Verluste von September 1939 bis Mai 1945 [German U-boat losses from September 1939 to May 1945]. Der U-Boot-Krieg (bằng tiếng Đức). Quyển IV. Hamburg, Berlin, Bonn: Mittler. ISBN 3-8132-0514-2.
  • Gröner, Erich; Jung, Dieter; Maass, Martin (1991). U-boats and Mine Warfare Vessels. German Warships 1815–1945. Quyển 2. Thomas, Keith; Magowan, Rachel biên dịch. London: Conway Maritime Press. ISBN 0-85177-593-4.
  • Neistlé, Axel (2014). German U-Boat Losses during World War II: Details of Destruction (ấn bản thứ 2). Havertown: Frontline Books. ISBN 978-1848322103.
  • Rössler, Eberhard (2006). Die Sonaranlagen der deutschen Unterseeboote: Entwicklung, Erprobung, Einsatz und Wirkung akustischer Ortungs- und Tauschungseinrichtungen der deutschen Unterseeboote (bằng tiếng Đức). Bernard & Graefe. ISBN 3-7637-6272-8.
  • Sharpe, Peter (1998). U-Boat Fact File: Detailed Service Histories of the Submarines Operated by the Kriegsmarine 1935-1945. Leicester: Midland Publishing. ISBN 1-85780-072-9.
  • Wynn, Kenneth G (1998). U-Boat Operations of the Second World War: Career Histories, U1-U510. Naval Institute Press. ISBN 1-55750-860-7.

Liên kết ngoài

  • Helgason, Guðmundur. "The Type VIIC boat U-1105". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2025.
  • Hofmann, Markus. "U 1105". Deutsche U-Boote 1935-1945 - u-boot-archiv.de (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2025.
  • "U-1105". history.navy.mil. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 10 năm 2006.