U-741 (tàu ngầm Đức)
Tàu ngầm U-boat Type VIIC | |
| Lịch sử | |
|---|---|
| Tên gọi | U-741 |
| Đặt hàng | 5 tháng 6, 1941 |
| Xưởng đóng tàu | Schichau-Werke, Danzig |
| Số hiệu xưởng đóng tàu | 1544 |
| Đặt lườn | 30 tháng 4, 1942 |
| Hạ thủy | 4 tháng 2, 1943 |
| Nhập biên chế | 10 tháng 4, 1943 |
| Tình trạng | Bị tàu corvette Anh HMS Orchis thả mìn sâu đánh chìm trong eo biển Manche, 15 tháng 8, 1944[1] |
| Đặc điểm khái quát | |
| Lớp tàu | Tàu ngầm Type VIIC |
| Trọng tải choán nước | |
| Chiều dài | |
| Sườn ngang | |
| Chiều cao | 9,60 m (31 ft 6 in) [2] |
| Mớn nước | 4,74 m (15 ft 7 in) [2] |
| Công suất lắp đặt | |
| Động cơ đẩy |
|
| Tốc độ |
|
| Tầm xa | |
| Độ sâu thử nghiệm |
|
| Thủy thủ đoàn tối đa | 4 sĩ quan, 40-56 thủy thủ |
| Hệ thống cảm biến và xử lý | Gruppenhorchgerät |
| Vũ khí | |
| Thành tích phục vụ[1][3] | |
| Một phần của: |
|
| Mã nhận diện: | M 41 306 |
| Chỉ huy: |
|
| Chiến dịch: |
|
| Chiến thắng: | 1 tàu chiến tổn thất toàn bộ (1.625 tấn) |
U-741 là một tàu ngầm tấn công Lớp Type VII thuộc phân lớp Type VIIC được Hải quân Đức Quốc Xã chế tạo trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nhập biên chế năm 1943, nó đã thực hiện được năm chuyến tuần tra và gây tổn thất toàn bộ cho một tàu chiến tải trọng 1.625 tấn. Trong chuyến tuần tra cuối cùng, U-741 bị tàu corvette HMS Orchis của Hải quân Hoàng gia Anh thả mìn sâu đánh chìm trong eo biển Manche vào ngày 15 tháng 8, 1944.
Thiết kế và chế tạo
Thiết kế

Phân lớp VIIC của Tàu ngầm Type VII là một phiên bản VIIB được kéo dài thêm. Chúng có trọng lượng choán nước 769 t (757 tấn Anh) khi nổi và 871 t (857 tấn Anh) khi lặn).[4] Con tàu có chiều dài chung 67,10 m (220 ft 2 in), lớp vỏ trong chịu áp lực dài 50,50 m (165 ft 8 in), mạn tàu rộng 6,20 m (20 ft 4 in), chiều cao 9,60 m (31 ft 6 in) và mớn nước 4,74 m (15 ft 7 in).[4]
Chúng trang bị hai động cơ diesel Germaniawerft F46 siêu tăng áp 6-xy lanh 4 thì, tổng công suất 2.800–3.200 PS (2.100–2.400 kW; 2.800–3.200 bhp), dẫn động hai trục chân vịt đường kính 1,23 m (4,0 ft), cho phép đạt tốc độ tối đa 17,7 kn (32,8 km/h), và tầm hoạt động tối đa 8.500 nmi (15.700 km) khi đi tốc độ đường trường 10 kn (19 km/h). Khi đi ngầm dưới nước, chúng sử dụng hai động cơ/máy phát điện Garbe, Lahmeyer & Co. RP 137/c tổng công suất 750 PS (550 kW; 740 shp). Tốc độ tối đa khi lặn là 7,6 kn (14,1 km/h), và tầm hoạt động 80 nmi (150 km) ở tốc độ 4 kn (7,4 km/h). Con tàu có khả năng lặn sâu đến 230 m (750 ft).[4]
Vũ khí trang bị có năm ống phóng ngư lôi 53,3 cm (21 in), bao gồm bốn ống trước mũi và một ống phía đuôi, và mang theo tổng cộng 14 quả ngư lôi, hoặc tối đa 22 quả thủy lôi TMA, hoặc 33 quả TMB. Tàu ngầm Type VIIC bố trí một hải pháo 8,8 cm SK C/35 cùng một pháo phòng không 2 cm (0,79 in) trên boong tàu. Thủy thủ đoàn bao gồm 4 sĩ quan và 40-56 thủy thủ.[4]
Chế tạo
U-741 được đặt hàng vào ngày 5 tháng 6, 1941,[1] và được đặt lườn tại xưởng tàu của hãng Schichau-Werke ở Danzig vào ngày 30 tháng 4, 1942.[1] Nó được hạ thủy vào ngày 4 tháng 2, 1943,[1] và nhập biên chế cùng Hải quân Đức Quốc Xã vào ngày 10 tháng 4, 1943[1] dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Trung úy Hải quân Gerhard Palmgren.[1]
Lịch sử hoạt động
1943
Sau khi hoàn tất việc huấn luyện trong thành phần Chi hạm đội U-boat 8, U-741 được điều sang Chi hạm đội U-boat 1 từ ngày 1 tháng 11, 1943 để hoạt động trên tuyến đầu cho đến khi bị mất.[1]
Chuyến tuần tra thứ nhất
U-741 xuất phát từ cảng Kiel, Đức vào ngày 25 tháng 11, 1943 cho chuyến tuần tra đầu tiên trong chiến tranh. Nó đã tiến ra Bắc Hải, rồi băng qua khe GI-UK giữa Iceland và quần đảo Faroe để vòng qua quần đảo Anh và hoạt động tại khu vực Trung tâm Bắc Đại Tây Dương. Không đánh chìm được mục tiêu nào, chiếc tàu ngầm kết thúc chuyến tuần tra và đi đến cảng Brest bên bờ Đại Tây Dương của Pháp vào ngày 27 tháng 1, 1944.[5]
1944
Chuyến tuần tra thứ hai
U-741 khởi hành từ Brest vào ngày 29 tháng 2, 1944 cho chuyến tuần tra thứ hai, và hoạt động trong vùng biển Đại Tây Dương về phía Tây Ireland (Khu vực Tiếp cận phía Tây). Con tàu đã hai lần bị máy bay đối phương tấn công vào ngày 11 tháng 3, nhưng không bị hư hại. Nó quay trở về Brest vào ngày 3 tháng 5.[6]
Chuyến tuần tra thứ ba
Sau khi lực lượng Đồng Minh thực hiện cuộc đổ bộ lên miền Bắc nước Pháp vào ngày 6 tháng 6, U-741 thực hiện chuyến tuần tra thứ ba từ ngày 19 đến ngày 29 tháng 6 nhằm tìm cách ngăn chặn cuộc đổ bộ.[7]
Chuyến tuần tra thứ tư
Xuất phát từ Brest vào ngày 5 tháng 7 cho chuyến tuần tra thứ tư, U-741 được bốn tàu đánh cá vũ trang hộ tống băng qua vịnh Biscay để hoạt động trong eo biển Manche. Trong đêm đó, họ đụng độ với Đội hộ tống 12 Hải quân Hoàng gia Canada, bao gồm các tàu khu trục HMCS Saskatchewan,HMCS Qu'Appalle River, HMCS Skeena và HMCS Restiguche River. Trong trận Pierres Noires diễn ra sau đó, một tàu hộ tống Đức đã bị đánh chìm và một chiếc khác bị hư hại, nhưng U-741 đã thoát được để tiếp tục chuyến tuần tra, và đi đến cảng Le Havre vào ngày 15 tháng 7.[8]
Chuyến tuần tra thứ năm – Bị mất
U-741 khởi hành từ Le Havre vào ngày 3 tháng 8 cho chuyến tuần tra thứ năm, cũng là chuyến cuối cùng, để hoạt động eo eo biển Manche.[9]Vào ngày 15 tháng 8, nó phóng ngư lôi tấn công Đoàn tàu FTM-69 ở vị trí khoảng 35 nmi (65 km) về phía Đông Nam St. Catherine's Point (cực Nam đảo Wight), đánh trúng và gây tổn thất toàn bộ cho chiếc tàu bổ bộ LST HMS LST-404 1.625 tấn của Hải quân Hoàng gia Anh.[10]
Tuy nhiên ngay sau đó chiếc U-boat bị các tàu hộ tống cho đoàn tàu phản công, và tàu corvette Anh HMS Orchis đã thả mìn sâu đánh chìm U-741 tại tọa độ 50°02′B 00°36′T / 50,033°B 0,6°T.[1] 48 thành viên thủy thủ đoàn của U-741 đã tử trận, và chỉ có một người duy nhất sống được cứu vớt và bị bắt làm tù binh chiến tranh.[1]
Xác tàu đắm của U-741 được tìm thấy vào năm 2000.
"Bầy sói" tham gia
U-741 từng tham gia sáu bầy sói:
- Coronel 1 (14 – 17 tháng 12, 1943)
- Sylt (18 – 23 tháng 12, 1943)
- Rügen 2 (23 – 28 tháng 12, 1943)
- Rügen 1 (28 tháng 12, 1943 – 7 tháng 1, 1944)
- Rügen (7 – 14 tháng 1, 1944)
- Preussen (7 – 22 tháng 3, 1944)
Tóm tắt chiến công
U-741 đã gây tổn thất toàn bộ cho một tàu chiến tải trọng 1.625 tấn:
| Ngày | Tên tàu | Quốc tịch | Tải trọng[Ghi chú 1] | Số phận[11] |
|---|---|---|---|---|
| 15 tháng 8, 1944 | HMS LST-404 | 1.625 | Tổn thất toàn bộ |
Xem thêm
Tham khảo
Ghi chú
- ↑ Tàu buôn theo tấn đăng ký toàn phần. Tàu quân sự theo trọng lượng choán nước.
Chú thích
- 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Helgason, Guðmundur. "The Type VIIB U-boat U-741". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2025.
- 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 Helgason, Guðmundur. "Type VIIC". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2025.
- ↑ Helgason, Guðmundur. "War Patrols by German U-boat U-741". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2025.
- 1 2 3 4 Gröner, Jung & Maass 1991, tr. 43–46.
- ↑ Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-741 (first patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2025.
- ↑ Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-741 (second patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2025.
- ↑ Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-741 (third patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2025.
- ↑ Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-741 (fourth patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2025.
- ↑ Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-741 (fifth patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2025.
- ↑ Helgason, Guðmundur. "HMS LST-404 – British Landing ship". Ships hit by U-boats - uboat.net. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2025.
- ↑ Helgason, Guðmundur. "Ships hit by U-741". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2025.
Thư mục
- Busch, Rainer; Röll, Hans-Joachim (1999). German U-boat commanders of World War II : a biographical dictionary. Brooks, Geoffrey biên dịch. London, Annapolis, Maryland: Greenhill Books, Naval Institute Press. ISBN 1-55750-186-6.
- Busch, Rainer; Röll, Hans-Joachim (1999). Deutsche U-Boot-Verluste von September 1939 bis Mai 1945 [German U-boat losses from September 1939 to May 1945]. Der U-Boot-Krieg (bằng tiếng Đức). Quyển IV. Hamburg, Berlin, Bonn: Mittler. ISBN 3-8132-0514-2.
- Gröner, Erich; Jung, Dieter; Maass, Martin (1991). U-boats and Mine Warfare Vessels. German Warships 1815–1945. Quyển 2. Thomas, Keith; Magowan, Rachel biên dịch. London: Conway Maritime Press. ISBN 0-85177-593-4.
- Kemp, Paul (1999). U-Boats Destroyed - German Submarine Losses in the World Wars. W & N. ISBN 978-1854095152.
- Neistlé, Axel (2014). German U-Boat Losses during World War II: Details of Destruction (ấn bản thứ 2). Havertown: Frontline Books. ISBN 978-1848322103.
- Sharpe, Peter (1998). U-Boat Fact File: Detailed Service Histories of the Submarines Operated by the Kriegsmarine 1935-1945. Leicester: Midland Publishing. ISBN 1-85780-072-9.
Liên kết ngoài
- Helgason, Guðmundur. "The Type VIIC boat U-741". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2025.
- Tàu ngầm Type VII
- Tàu ngầm của Hải quân Đức trong Thế Chiến II
- U-boat bị đánh chìm bởi mìn sâu
- U-boat bị tàu chiến Anh đánh chìm
- Xác tàu đắm trong Thế chiến II trong eo biển Manche
- Sự cố hàng hải năm 1944
- Tàu thủy năm 1943