Bước tới nội dung

U-907 (tàu ngầm Đức)

Tàu ngầm U-boat Type VIIC
Lịch sử
Đức Quốc Xã
Tên gọiU-907
Đặt hàng6 tháng 8, 1942
Xưởng đóng tàuH. C. Stülcken Sohn, Hamburg
Số hiệu xưởng đóng tàu804
Đặt lườn1 tháng 4, 1943
Hạ thủy1 tháng 3, 1944
Nhập biên chế18 tháng 5, 1944
Tình trạng
Đặc điểm khái quát
Lớp tàuTàu ngầm Type VIIC
Trọng tải choán nước
Chiều dài
  • 67,10 m (220 ft 2 in) (chung) [2]
  • 50,50 m (165 ft 8 in) (lườn áp lực) [2]
Sườn ngang
  • 6,20 m (20 ft 4 in) (chung) [2]
  • 4,70 m (15 ft 5 in) (lườn áp lực) [2]
Chiều cao9,60 m (31 ft 6 in) [2]
Mớn nước4,74 m (15 ft 7 in) [2]
Công suất lắp đặt
  • 2.800–3.200 PS (2.100–2.400 kW; 2.800–3.200 shp) (diesel) [2]
  • 750 PS (550 kW; 740 shp) (điện) [2]
Động cơ đẩy
Tốc độ
Tầm xa
  • 8.500 hải lý (15.700 km; 9.800 mi) ở tốc độ 10 hải lý trên giờ (19 km/h; 12 mph) (nổi) [2]
  • 80 hải lý (150 km; 92 mi) ở tốc độ 4 hải lý trên giờ (7,4 km/h; 4,6 mph) (lặn) [2]
Độ sâu thử nghiệm
  • 230 m (750 ft) [2]
  • 250–295 m (820–968 ft) (độ sâu ép vỡ tính toán)
Thủy thủ đoàn tối đa4 sĩ quan, 40-56 thủy thủ
Hệ thống cảm biến và xử lýGruppenhorchgerät
Vũ khí
  • 5 × ống phóng ngư lôi 53,3 cm (21 in) [2]
    • (4 × trước mũi, 1 × phía đuôi)
    • 14 × ngư lôi hoặc
    • 26 × mìn TMA hoặc
    • 39 × mìn TMB
  • 1 × Hải pháo 8,8 cm SK C/35, với 220 quả đạn [2]
  • 2 × pháo phòng không 2 cm (0,79 in) C/30 [2]
Thành tích phục vụ[1][3]
Một phần của:
  • Chi hạm đội U-boat 31
  • 18 tháng 5 – 30 tháng 11, 1944
  • Chi hạm đội U-boat 11
  • 1 tháng 12, 1944 – 8 tháng 5, 1945
Mã nhận diện:M 01 308
Chỉ huy:
  • Trung úy Servais Cabolet
  • 18 tháng 5, 1944 – 9 tháng 5, 1945
Chiến dịch:
  • 2 chuyến tuần tra:
  • 1: 4 tháng 1 – 15 tháng 3, 1945
  • 2: 29 tháng 4 – 5 tháng 5, 1945
Chiến thắng:Không

U-907 là một tàu ngầm tấn công Lớp Type VII thuộc phân lớp Type VIIC được Hải quân Đức Quốc Xã chế tạo trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nhập biên chế năm 1944, nó chỉ thực hiện được hai chuyến tuần tra và không đánh chìm được mục tiêu nào. U-907 sống sót qua Thế Chiến II, đầu hàng lực lượng Đồng Minh tại Bergen, Na Uy vào ngày 9 tháng 5, 1945, và cuối cùng đánh đắm ngoài khơi Bắc Ireland trong khuôn khổ Chiến dịch Deadlight vào ngày 7 tháng 12, 1945.

Thiết kế và chế tạo

Thiết kế

Sơ đồ các mặt cắt một tàu ngầm Type VIIC

Phân lớp VIIC của Tàu ngầm Type VII là một phiên bản VIIB được kéo dài thêm. Chúng có trọng lượng choán nước 769 t (757 tấn Anh) khi nổi và 871 t (857 tấn Anh) khi lặn).[4] Con tàu có chiều dài chung 67,10 m (220 ft 2 in), lớp vỏ trong chịu áp lực dài 50,50 m (165 ft 8 in), mạn tàu rộng 6,20 m (20 ft 4 in), chiều cao 9,60 m (31 ft 6 in) và mớn nước 4,74 m (15 ft 7 in).[4]

Chúng trang bị hai động cơ diesel Germaniawerft F46 siêu tăng áp 6-xy lanh 4 thì, tổng công suất 2.800–3.200 PS (2.100–2.400 kW; 2.800–3.200 bhp), dẫn động hai trục chân vịt đường kính 1,23 m (4,0 ft), cho phép đạt tốc độ tối đa 17,7 kn (32,8 km/h), và tầm hoạt động tối đa 8.500 nmi (15.700 km) khi đi tốc độ đường trường 10 kn (19 km/h). Khi đi ngầm dưới nước, chúng sử dụng hai động cơ/máy phát điện Garbe, Lahmeyer & Co. RP 137/c tổng công suất 750 PS (550 kW; 740 shp). Tốc độ tối đa khi lặn là 7,6 kn (14,1 km/h), và tầm hoạt động 80 nmi (150 km) ở tốc độ 4 kn (7,4 km/h). Con tàu có khả năng lặn sâu đến 230 m (750 ft).[4]

Vũ khí trang bị có năm ống phóng ngư lôi 53,3 cm (21 in), bao gồm bốn ống trước mũi và một ống phía đuôi, và mang theo tổng cộng 14 quả ngư lôi, hoặc tối đa 22 quả thủy lôi TMA, hoặc 33 quả TMB. Tàu ngầm Type VIIC bố trí một hải pháo 8,8 cm SK C/35 cùng một pháo phòng không 2 cm (0,79 in) trên boong tàu. Thủy thủ đoàn bao gồm 4 sĩ quan và 40-56 thủy thủ.[4]

Chế tạo

U-907 được đặt hàng vào ngày 6 tháng 8, 1942,[1] và được đặt lườn tại xưởng tàu của hãng H. C. Stülcken Sohn ở Hamburg vào ngày 1 tháng 4, 1943.[1] Nó được hạ thủy vào ngày 1 tháng 3, 1944,[1] và nhập biên chế cùng Hải quân Đức Quốc Xã vào ngày 18 tháng 5, 1944[1] dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Trung úy Hải quân Servais Cabolet.[1]

Lịch sử hoạt động

Sau khi hoàn tất việc huấn luyện trong thành phần Chi hạm đội U-boat 31, U-907 được điều sang Chi hạm đội U-boat 11 từ ngày 1 tháng 12, 1944 để hoạt động trên tuyến đầu cho đến khi bị mất.[1]

Chuyến tuần tra thứ nhất

Vào giữa tháng 12, 1944, U-905 di chuyển từ cảng Kiel, Đức lần lượt đến các cảng Horten, KristiansandBergen cùng thuộc Na Uy.[3] Nó xuất phát từ Bergen vào ngày 4 tháng 1, 1945 cho chuyến tuần tra đầu tiên trong chiến tranh, tiến ra Bắc Hải rồi băng qua khe GI-UK giữa các quần đảo ShetlandFaroe để vòng qua quần đảo Anh và hoạt động trong khu vực Bắc Đại Tây Dương về phía Tây Ireland. Nó không đánh chìm được mục tiêu nào, nên kết thúc chuyến tuần tra và quay trở về Kristiansand vào ngày 15 tháng 3.[5]

Chuyến tuần tra thứ hai

Vào giữa tháng 3, chiếc U-boat di chuyển từ Kristiansand đến Bergen,[3] rồi khởi hành từ đây vào ngày 29 tháng 4 cho chuyến tuần tra thứ hai, cũng là chuyến cuối cùng. Nó chỉ hoạt động trong vùng biển Na Uy trước khi quay trở lại Bergen vào ngày 5 tháng 5.[6]

Số phận

Sau khi Đức Quốc xã chấp nhận đầu hàng, U-907 đầu hàng lực lượng Đồng Minh tại Bergen vào ngày 9 tháng 5, 1945.[1] Con tàu được đưa đến Loch Ryan, Scotland vào ngày 2 tháng 6, và cuối cùng bị loại bỏ trong khuôn khổ Chiến dịch Deadlight vào ngày 7 tháng 12, 1945, khi bị đánh đắm ngoài khơi Bắc Ireland, tại tọa độ 55°17′B 05°59′T / 55,283°B 5,983°T / 55.283; -5.983.[1]

Xem thêm

Tham khảo

Chú thích

  1. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 Helgason, Guðmundur. "The Type VIIC U-boat U-907". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2025.
  2. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 Helgason, Guðmundur. "Type VIIC". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2025.
  3. 1 2 3 Helgason, Guðmundur. "War Patrols by German U-boat U-907". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2025.
  4. 1 2 3 4 Gröner, Jung & Maass 1991, tr. 43–46.
  5. Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-907 (first patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2025.
  6. Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-907 (second patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2025.

Thư mục

  • Busch, Rainer; Röll, Hans-Joachim (1999). German U-boat commanders of World War II : a biographical dictionary. Brooks, Geoffrey biên dịch. London, Annapolis, Maryland: Greenhill Books, Naval Institute Press. ISBN 1-55750-186-6.
  • Busch, Rainer; Röll, Hans-Joachim (1999). Deutsche U-Boot-Verluste von September 1939 bis Mai 1945 [German U-boat losses from September 1939 to May 1945]. Der U-Boot-Krieg (bằng tiếng Đức). Quyển IV. Hamburg, Berlin, Bonn: Mittler. ISBN 3-8132-0514-2.
  • Gröner, Erich; Jung, Dieter; Maass, Martin (1991). U-boats and Mine Warfare Vessels. German Warships 1815–1945. Quyển 2. Thomas, Keith; Magowan, Rachel biên dịch. London: Conway Maritime Press. ISBN 0-85177-593-4.
  • Neistlé, Axel (2014). German U-Boat Losses during World War II: Details of Destruction (ấn bản thứ 2). Havertown: Frontline Books. ISBN 978-1848322103.
  • Sharpe, Peter (1998). U-Boat Fact File: Detailed Service Histories of the Submarines Operated by the Kriegsmarine 1935-1945. Leicester: Midland Publishing. ISBN 1-85780-072-9.

Liên kết ngoài