Array
(
    [0] => 
[1] => Thiết_kế_và_chế_tạo )
U-576 (tàu ngầm Đức) – Wiki Scholarship
Bước tới nội dung

U-576 (tàu ngầm Đức)

Tàu ngầm U-boat Type VIIC
Lịch sử
Đức Quốc Xã
Tên gọiU-576
Đặt hàng8 tháng 1, 1940
Xưởng đóng tàuBlohm & Voss, Hamburg
Số hiệu xưởng đóng tàu552
Đặt lườn1 tháng 8, 1940
Hạ thủy30 tháng 4, 1941
Nhập biên chế26 tháng 6, 1941
Tình trạngBị máy bay và tàu buôn Hoa Kỳ đánh chìm gần bờ Đông Hoa Kỳ, 15 tháng 7, 1942[1][2]
Đặc điểm khái quát
Lớp tàuTàu ngầm Type VIIC
Trọng tải choán nước
Chiều dài
  • 67,10 m (220 ft 2 in) (chung) [3]
  • 50,50 m (165 ft 8 in) (lườn áp lực) [3]
Sườn ngang
  • 6,20 m (20 ft 4 in) (chung) [3]
  • 4,70 m (15 ft 5 in) (lườn áp lực) [3]
Chiều cao9,60 m (31 ft 6 in) [3]
Mớn nước4,74 m (15 ft 7 in) [3]
Công suất lắp đặt
  • 2.800–3.200 PS (2.100–2.400 kW; 2.800–3.200 shp) (diesel) [3]
  • 750 PS (550 kW; 740 shp) (điện) [3]
Động cơ đẩy
Tốc độ
Tầm xa
  • 8.500 hải lý (15.700 km; 9.800 mi) ở tốc độ 10 hải lý trên giờ (19 km/h; 12 mph) (nổi) [3]
  • 80 hải lý (150 km; 92 mi) ở tốc độ 4 hải lý trên giờ (7,4 km/h; 4,6 mph) (lặn) [3]
Độ sâu thử nghiệm
  • 230 m (750 ft) [3]
  • 250–295 m (820–968 ft) (độ sâu ép vỡ tính toán)
Thủy thủ đoàn tối đa4 sĩ quan, 40-56 thủy thủ
Hệ thống cảm biến và xử lýGruppenhorchgerät
Vũ khí
  • 5 × ống phóng ngư lôi 53,3 cm (21 in) [3]
    • (4 × trước mũi, 1 × phía đuôi)
    • 14 × ngư lôi hoặc
    • 26 × mìn TMA hoặc
    • 39 × mìn TMB
  • 1 × Hải pháo 8,8 cm SK C/35, với 220 quả đạn [3]
  • 2 × pháo phòng không 2 cm (0,79 in) C/30 [3]
Thành tích phục vụ[2][4]
Một phần của:
  • Chi hạm đội U-boat 7
  • 26 tháng 6, 1941 – 15 tháng 7, 1942
Mã nhận diện:M 44 117
Chỉ huy:
  • Đại úy Hans-Dieter Heinicke
  • 26 tháng 6, 1941 – 15 tháng 7, 1942
Chiến dịch:
  • 5 chuyến tuần tra:
  • 1: 6 tháng 10 – 12 tháng 11, 1941
  • 2: 11 – 23 tháng 12, 1941
  • 3: 20 tháng 1 – 28 tháng 2, 1942
  • 4: 29 tháng 3 – 16 tháng 5, 1942
  • 5: 16 tháng 6 – 15 tháng 7, 1942
Chiến thắng:
  • 4 tàu buôn bị đánh chìm
    (15.450 GRT)
  • 2 tàu buôn bị hư hại
    (19.457 GRT)
U-576Bluefields (xác tàu đắm)
Thành phố gần nhấtHatteras, North Carolina
MPSXác tàu đắm trong Thế Chiến II tại bờ Đông và vịnh Mexico
Số NRHP #15000864
Đưa vào NRHP8 tháng 12, 2015

U-576 là một tàu ngầm tấn công Lớp Type VII thuộc phân lớp Type VIIC được Hải quân Đức Quốc Xã chế tạo trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nhập biên chế năm 1941, nó đã thực hiện được năm chuyến tuần tra, đánh chìm được bốn tàu buôn với tổng tải trọng 15.450 GRT, đồng thời gây hư hại cho hai tàu buôn với tổng tải trọng 19.457 GRT. Trongchuyến tuần tra cuối cùng, U-576 bị hỏa lực pháo từ chiếc tàu buôn Hoa Kỳ Unicoi phối hợp với mìn sâu thả từ hai thủy phi cơ Vought OS2U Kingfisher của Hải quân Hoa Kỳ đánh chìm ngoài khơi bờ Đông Hoa Kỳ vào ngày 15 tháng 7, 1942.[1] Xác tàu đắm được khám phá vào tháng 8, 2014.

Thiết kế và chế tạo

Thiết kế

Sơ đồ các mặt cắt một tàu ngầm Type VIIC

Phân lớp VIIC của Tàu ngầm Type VII là một phiên bản VIIB được kéo dài thêm. Chúng có trọng lượng choán nước 769 t (757 tấn Anh) khi nổi và 871 t (857 tấn Anh) khi lặn).[5] Con tàu có chiều dài chung 67,10 m (220 ft 2 in), lớp vỏ trong chịu áp lực dài 50,50 m (165 ft 8 in), mạn tàu rộng 6,20 m (20 ft 4 in), chiều cao 9,60 m (31 ft 6 in) và mớn nước 4,74 m (15 ft 7 in).[5]

Chúng trang bị hai động cơ diesel Germaniawerft F46 siêu tăng áp 6-xy lanh 4 thì, tổng công suất 2.800–3.200 PS (2.100–2.400 kW; 2.800–3.200 bhp), dẫn động hai trục chân vịt đường kính 1,23 m (4,0 ft), cho phép đạt tốc độ tối đa 17,7 kn (32,8 km/h), và tầm hoạt động tối đa 8.500 nmi (15.700 km) khi đi tốc độ đường trường 10 kn (19 km/h). Khi đi ngầm dưới nước, chúng sử dụng hai động cơ/máy phát điện Garbe, Lahmeyer & Co. RP 137/c tổng công suất 750 PS (550 kW; 740 shp). Tốc độ tối đa khi lặn là 7,6 kn (14,1 km/h), và tầm hoạt động 80 nmi (150 km) ở tốc độ 4 kn (7,4 km/h). Con tàu có khả năng lặn sâu đến 230 m (750 ft).[5]

Vũ khí trang bị có năm ống phóng ngư lôi 53,3 cm (21 in), bao gồm bốn ống trước mũi và một ống phía đuôi, và mang theo tổng cộng 14 quả ngư lôi, hoặc tối đa 22 quả thủy lôi TMA, hoặc 33 quả TMB. Tàu ngầm Type VIIC bố trí một hải pháo 8,8 cm SK C/35 cùng một pháo phòng không 2 cm (0,79 in) trên boong tàu. Thủy thủ đoàn bao gồm 4 sĩ quan và 40-56 thủy thủ.[5]

Chế tạo

U-576 được đặt hàng vào ngày 8 tháng 1, 1940,[2] và được đặt lườn tại xưởng tàu của hãng Blohm & Voss ở Hamburg vào ngày 1 tháng 8, 1940.[2] Nó được hạ thủy vào ngày 30 tháng 4, 1941,[2] và nhập biên chế cùng Hải quân Đức Quốc Xã vào ngày 26 tháng 6, 1941[2] dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Đại úy Hải quân Hans-Dieter Heinicke.[2]

Lịch sử hoạt động

1941

Sau khi hoàn tất việc huấn luyện trong thành phần Chi hạm đội U-boat 7, U-576 tiếp tục phục vụ cùng đơn vị này để hoạt động trên tuyến đầu cho đến khi bị mất.[2]

Chuyến tuần tra thứ nhất

Sau khi di chuyển từ cảng Kiel, Đức đến cảng Bergen, Na Uy, và sau đó đến cảng Kirkenes ở phía cực Bắc Na Uy vào cuối tháng 9, 1941,[4] U-576 xuất phát từ đây vào ngày 6 tháng 10 cho chuyến tuần tra đầu tiên trong chiến tranh. Nó đã hoạt động trong biển Barents ngoài khơi bán đảo Kola, nhưng không đánh chìm được mục tiêu nào, và kết thúc chuyến tuần tra tại căn cứ Kirkenes vào ngày 5 tháng 11.[6] Sau đó chiếc U-boat quay trở lại cảng Bergen vào giữa tháng 11.[4]

Chuyến tuần tra thứ hai

U-576 khởi hành từ cảng Bergen vào ngày 11 tháng 12 cho chuyến tuần tra thứ hai. Nó đã băng qua khe GI-UK giữa các quần đảo ShetlandFaroe để vòng qua quần đảo Anh và hoạt động tại vùng biển Bắc Đại Tây Dương về phía Tây Ireland (Khu vực Tiếp cận phía Tây). Con tàu đi đến cảng St. Nazaire bên bờ Đại Tây Dương của Pháp đã bị Đức chiếm đóng, đến nơi vào ngày 23 tháng 12.[7]

1942

Chuyến tuần tra thứ ba

Xuất phát từ cảng St. Nazaire vào ngày 20 tháng 1, 1942 cho chuyến tuần tra tiếp theo, U-576 đã băng qua suốt Đại Tây Dương để hoạt động dọc theo bờ biển CanadaHoa Kỳ trong khuôn khổ Chiến dịch Paukenschlag (tiếng Anh: Chiến dịch Drumbeat).[8] Vào ngày 14 tháng 2, nó phóng ngư lôi tấn công và đánh chìm chiếc Empire Spring 6.946 GRT, một tàu CAM[Ghi chú 1] bị tách rời khỏi Đoàn tàu ON-63, ở vị trí khoảng 50 nmi (93 km) về phía Đông Nam đảo Sable, Nova Scotia, khiến toàn bộ 55 thành viên thủy thủ đoàn đều thiệt mạng.[9][10] Chiếc U-boat quay trở về căn cứ St. Nazaire vào ngày 28 tháng 2.[4]

Chuyến tuần tra thứ tư

Trong chuyến tuần tra thứ tư, cùng xuất phát và kết thúc tại St. Nazaire và kéo dài từ ngày 29 tháng 3 đến ngày 16 tháng 5, U-576 lại băng qua suốt Đại Tây Dương để tiếp tục Chiến dịch Paukenschlag tại vùng bờ Đông Hoa Kỳ.[11][12] Vào ngày 21 tháng 4, U-576 đánh chìm chiếc tàu buôn Hoa Kỳ Pipestone County 5.102 GRT ở vị trí khoảng 475 nmi (880 km) về phía Đông mũi Henry, Virginia.[10][13] Đến ngày 30 tháng 4, U-576 đánh chìm chiếc tàu buôn Na Uy Taborfjell 1.339 GRT ở vị trí khoảng 95 nmi (176 km) về phía Đông Cape Cod, Massachusetts.[10][14]

Chuyến tuần tra thứ năm – Bị mất

U-576 khởi hành từ cảng St. Nazaire vào ngày 16 tháng 6 cho chuyến tuần tra thứ năm, cũng là chuyến cuối cùng, để tiếp tục tham gia Chiến dịch Paukenschlag ngoài khơi bờ biển Đông Nam Hoa Kỳ.[15] Vào đầu tháng 7, nó phát hiện một đoàn tàu vận tải Đồng Minh, nhưng không thể tấn công. Chiếc tàu ngầm thường xuyên gặp trục trặc động cơ, và trong các ngày 1314 tháng 7 đã chịu đựng một đợt không kích làm hư hại một trong các thùng dằn, ảnh hưởng đến khả năng lặn. Đại úy Heinicke báo cáo về căn cứ lần sau cùng về những hư hại không thể sửa chữa trên biển, nên bắt đầu di chuyển về hướng Đông, đi được 16 hải lý mỗi ngày.[10]

Ngoài khơi bờ biển Bắc Carolina vào ngày 15 tháng 7, U-576 bắt gặp Đoàn tàu KS-520, bao gồm 19 tàu buôn và năm tàu hộ tống, đang di chuyển từ Hampton Roads, Virginia đến Key West, Florida.[10] Nó phóng bốn quả ngư lôi tấn công, lần lượt đánh chìm tàu chở hàng Nicaragua Bluefields 2.063 GRT,[16] đồng thời gây hư hại cho các tàu buôn Hoa Kỳ Chilore 8.310 GRTtàu chở dầu Panama J. A. Mowinckel 11.147 GRT.[10] Cả hai sau đó lại lọt vào một bãi mìn của Hoa Kỳ ngoài khơi mũi Henry, Virginia, khiến Chilore bị đắm còn J. A. Mowinckel sống sót và được sửa chữa.[17][18]

Sau khi phóng ngư lôi, U-576 vô tình trồi lên mặt nước ngay giữa đoàn tàu vận tải, và lập tức bị tàu buôn Unicoi tấn công bằng hải pháo. Ngay sau đó, hai thủy phi cơ Vought OS2U Kingfisher thuộc Liên đội VS-9 Hải quân Hoa Kỳ tiếp tục tấn công bằng mìn sâu, một quả đã rơi trúng sàn tàu rồi lăn qua mạn trước khi kích nổ.[10] U-576 đắm ngoài khơi mũi Hatteras, Bắc Carolina, tại tọa độ 34°51′B 75°22′T / 34,85°B 75,367°T / 34.850; -75.367, để lại một vệt dầu loang lớn trên mặt nước.[2][10] Toàn bộ 45 thành viên thủy thủ đoàn của U-576 đều đã tử trận.[2][10]

Tóm tắt chiến công

U-576 đã đánh chìm được tám tàu buôn tổng tải trọng 43.945 GRT và hai tàu chiến tổng tải trọng 22.947 tấn, đồng thời gây hư hại cho ba tàu buôn khác:

NgàyTên tàuQuốc tịchTải trọng[Ghi chú 2]Số phận[19]
14 tháng 2, 1942Empire Spring United Kingdom6.946Bị đánh chìm
21 tháng 4, 1942Pipestone County United States5.102Bị đánh chìm
30 tháng 4, 1942Taborfjell Norway1.339Bị đánh chìm
15 tháng 7, 1942Bluefields Nicaragua2.063Bị đánh chìm
15 tháng 7, 1942Chilore United States8.310Bị hư hại
15 tháng 7, 1942J.A. Mowinckel Panama11.147Bị hư hại

Xem thêm

Tham khảo

Ghi chú

  1. CAM: Catapult Armed Merchantman, tàu buôn trang bị máy phóng và mang theo một máy bay tiêm kích để hộ tống cho đoàn tàu vận tải.
  2. Tàu buôn theo tấn đăng ký toàn phần. Tàu quân sự theo trọng lượng choán nước.

Chú thích

  1. 1 2 Kemp (1997), tr. 84.
  2. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Helgason, Guðmundur. "The Type VIIC U-boat U-576". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2025.
  3. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 Helgason, Guðmundur. "Type VIIC". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2025.
  4. 1 2 3 4 Helgason, Guðmundur. "War Patrols by German U-boat U-576". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2025.
  5. 1 2 3 4 Gröner, Jung & Maass 1991, tr. 43–46.
  6. Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-576 (first patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2025.
  7. Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-576 (second patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2025.
  8. Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-576 (third patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2025.
  9. Helgason, Guðmundur. "Empire Spring – British Catapult armed merchant". Ships hit by U-boats – uboat.net. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2025.
  10. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 Ruane, Michael E. (ngày 31 tháng 8 năm 2016). "After a 7-year search, a missing German U-boat is lost no longer". The Washington Post. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2018.
  11. Gannon (1990), tr. 489.
  12. Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-576 (fourth patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2025.
  13. Helgason, Guðmundur. "Pipestone County – American Steam merchant". Ships hit by U-boats – uboat.net. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2025.
  14. Helgason, Guðmundur. "Taborfjell – Norwegian Steam merchant". Ships hit by U-boats – uboat.net. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2025.
  15. Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-576 (fifth patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2025.
  16. Helgason, Guðmundur. "Bluefields – Nicaraguan Motor merchant". Ships hit by U-boats – uboat.net. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2025.
  17. Helgason, Guðmundur. "Chilore – American Steam merchant". Ships hit by U-boats – uboat.net. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2025.
  18. Helgason, Guðmundur. "J. A. Mowinkel – Panamanian Motor tanker". Ships hit by U-boats – uboat.net. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2025.
  19. Helgason, Guðmundur. "Ships hit by U-576". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2025.

Thư mục

  • Busch, Rainer; Röll, Hans-Joachim (1999). German U-boat commanders of World War II : a biographical dictionary. Brooks, Geoffrey biên dịch. London, Annapolis, Maryland: Greenhill Books, Naval Institute Press. ISBN 1-55750-186-6.
  • Busch, Rainer; Röll, Hans-Joachim (1999). Deutsche U-Boot-Verluste von September 1939 bis Mai 1945 [German U-boat losses from September 1939 to May 1945]. Der U-Boot-Krieg (bằng tiếng Đức). Quyển IV. Hamburg, Berlin, Bonn: Mittler. ISBN 3-8132-0514-2.
  • Gannon, Michael (1990). Operation Drumbeat - the Dramatic True Story of Germany's First U-boat Attacks along the American Coast in World War II. Harper and Row publishers. ISBN 0-06-016155-8.
  • Gröner, Erich; Jung, Dieter; Maass, Martin (1991). U-boats and Mine Warfare Vessels. German Warships 1815–1945. Quyển 2. Thomas, Keith; Magowan, Rachel biên dịch. London: Conway Maritime Press. ISBN 0-85177-593-4.
  • Kemp, Paul (1997). U-Boats Destroyed - German Submarine Losses in the World Wars. Arms & Armour. ISBN 1-85409-515-3.
  • Neistlé, Axel (2014). German U-Boat Losses during World War II: Details of Destruction (ấn bản thứ 2). Havertown: Frontline Books. ISBN 978-1848322103.
  • Sharpe, Peter (1998). U-Boat Fact File: Detailed Service Histories of the Submarines Operated by the Kriegsmarine 1935-1945. Leicester: Midland Publishing. ISBN 1-85780-072-9.

Liên kết ngoài

  • Helgason, Guðmundur. "The Type VIIC boat U-576". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2025.
  • Hofmann, Markus. "U 576". Deutsche U-Boote 1935-1945 - u-boot-archiv.de (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2025.