Bước tới nội dung

U-1021 (tàu ngầm Đức)

U-995, một chiếc Type VIIC/41 tiêu biểu, hiện là tàu bảo tàng tại Laboe, Đức
Lịch sử
Đức Quốc Xã
Tên gọiU-1021
Đặt hàng13 tháng 6, 1942
Xưởng đóng tàuBlohm & Voss, Hamburg
Số hiệu xưởng đóng tàu221
Đặt lườn6 tháng 5, 1943
Hạ thủy13 tháng 4, 1944
Nhập biên chế25 tháng 5, 1944
Tình trạngĐắm do trúng thủy lôi trong biển Celtic, 14 tháng 3, 1945 [1]
Đặc điểm khái quát
Lớp tàuTàu ngầm Type VIIC/41
Trọng tải choán nước
Chiều dài
  • 67,10 m (220 ft 2 in) (chung) [2]
  • 50,50 m (165 ft 8 in) (lườn áp lực) [2]
Sườn ngang
  • 6,20 m (20 ft 4 in) (chung) [2]
  • 4,70 m (15 ft 5 in) (lườn áp lực) [2]
Chiều cao9,60 m (31 ft 6 in) [2]
Mớn nước4,74 m (15 ft 7 in) [2]
Công suất lắp đặt
  • 2.800–3.200 PS (2.100–2.400 kW; 2.800–3.200 shp) (diesel) [2]
  • 750 PS (550 kW; 740 shp) (điện) [2]
Động cơ đẩy
Tốc độ
Tầm xa
  • 8.500 hải lý (15.700 km; 9.800 mi) ở tốc độ 10 hải lý trên giờ (19 km/h; 12 mph) (nổi) [2]
  • 80 hải lý (150 km; 92 mi) ở tốc độ 4 hải lý trên giờ (7,4 km/h; 4,6 mph) (lặn) [2]
Độ sâu thử nghiệm
  • 250 m (820 ft) [2]
  • 275–325 m (902–1.066 ft) (độ sâu ép vỡ tính toán)
Thủy thủ đoàn tối đa4 sĩ quan, 40-56 thủy thủ
Vũ khí
  • 5 × ống phóng ngư lôi 53,3 cm (21 in) [2]
    • (4 × trước mũi, 1 × phía đuôi)
    • 14 × ngư lôi
  • 1 × Hải pháo 8,8 cm SK C/35, với 220 quả đạn [2]
  • 1 × pháo phòng không 3,7 cm (1,5 in) Flak M42 [2]
  • 2 × pháo phòng không 2 cm (0,79 in) C/30 [2]
Thành tích phục vụ[1][3]
Một phần của:
  • Chi hạm đội U-boat 31
  • 25 tháng 5 – 30 tháng 11, 1944
  • Chi hạm đội U-boat 11
  • 1 tháng 12, 1944 – 14 tháng 3, 1945
Mã nhận diện:M 23 789
Chỉ huy:
  • Trung úy William Holpert
  • 25 tháng 5, 1944 – 14 tháng 3, 1945
Chiến dịch:
  • 1 chuyến tuần tra:
  • 20 tháng 2 – 14 tháng 3, 1945
Chiến thắng:Không

U-1021 là một tàu ngầm tấn công Lớp Type VII thuộc phân lớp Type VIIC/41 được Hải quân Đức Quốc Xã chế tạo trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nhập biên chế năm 1944, nó chỉ thực hiện được một chuyến tuần tra duy nhất và không đánh chìm được mục tiêu nào, trước khi bị đắm do trúng thủy lôi trong biển Celtic vào ngày 14 tháng 3, 1945.

Thiết kế và chế tạo

Thiết kế

Mặt cắt của một tàu ngầm Type VIIC

Phân lớp VIIC/41 của Tàu ngầm Type VII là một phiên bản VIIC được cải tiến nhẹ có trọng ượng chung nhẹ hơn. Chúng có trọng lượng choán nước 759 t (747 tấn Anh) khi nổi và 860 t (850 tấn Anh) khi lặn).[4] Con tàu có chiều dài chung 67,10 m (220 ft 2 in), lớp vỏ trong chịu áp lực dài 50,50 m (165 ft 8 in), mạn tàu rộng 6,20 m (20 ft 4 in), chiều cao 9,60 m (31 ft 6 in) và mớn nước 4,74 m (15 ft 7 in).[4]

Chúng trang bị hai động cơ diesel Germaniawerft F46 siêu tăng áp 6-xy lanh 4 thì, tổng công suất 2.800–3.200 PS (2.100–2.400 kW; 2.800–3.200 bhp), dẫn động hai trục chân vịt đường kính 1,23 m (4,0 ft), cho phép đạt tốc độ tối đa 17,7 kn (32,8 km/h), và tầm hoạt động tối đa 8.500 nmi (15.700 km) khi đi tốc độ đường trường 10 kn (19 km/h). Khi đi ngầm dưới nước, chúng sử dụng hai động cơ/máy phát điện Garbe, Lahmeyer & Co. RP 137/c tổng công suất 750 PS (550 kW; 740 shp). Tốc độ tối đa khi lặn là 7,6 kn (14,1 km/h), và tầm hoạt động 80 nmi (150 km) ở tốc độ 4 kn (7,4 km/h). Với lườn áp lực chắn chắn hơn, phân lớp VIIC/41 có khả năng lặn sâu đến 250 m (820 ft).[4]

Vũ khí trang bị có năm ống phóng ngư lôi 53,3 cm (21 in), bao gồm bốn ống trước mũi và một ống phía đuôi, và mang theo tổng cộng 14 quả ngư lôi, hoặc tối đa 22 quả thủy lôi TMA, hoặc 33 quả TMB. Tàu ngầm Type VIIC bố trí một hải pháo 8,8 cm SK C/35, một pháo phòng không 3,7 cm (1,5 in) Flak M42 cùng hai pháo phòng không 2 cm (0,79 in) trên boong tàu. Thủy thủ đoàn bao gồm 4 sĩ quan và 40-56 thủy thủ.[4]

Chế tạo

U-1021 được đặt hàng vào ngày 13 tháng 6, 1942,[1] và được đặt lườn tại xưởng tàu Blohm & Voss ở Hamburg vào ngày 6 tháng 5, 1943.[1] Nó được hạ thủy vào ngày 13 tháng 4, 1944,[1] và nhập biên chế cùng Hải quân Đức Quốc Xã vào ngày 25 tháng 5, 1944[1] dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Trung úy Hải quân William Holpert.[1]

Lịch sử hoạt động

Sau khi hoàn tất việc huấn luyện trong thành phần Chi hạm đội U-boat 31, U-1021 được điều sang Chi hạm đội U-boat 11 từ ngày 1 tháng 12, 1944 để hoạt động trên tuyến đầu cho đến khi bị mất.[1]

Vào đầu tháng 2, 1945, U-1021 di chuyển từ cảng Kiel, Đức lần lượt đến các cảng HortenBergen cùng thuộc Na Uy,[3] rồi xuất phát từ Bergen vào ngày 20 tháng 2 cho chuyến tuần tra duy nhất trong chiến tranh. Nó đã tiến ra Bắc Hải, và băng qua khe GI-UK giữa các quần đảo ShetlandFaroe để vòng qua quần đảo Anh và hoạt động tại vùng biển Bắc Đại Tây Dương về phía Nam Ireland.[5]

Trước đây người ta cho rằng U-1021 bị đánh chìm vào ngày 30 tháng 3 tại eo biển The Minch ở quần đảo Hebrides, bởi mìn sâu thả từ các tàu frigate Anh HMS RupertHMS Conn.[6]

Tuy nhiên đến tháng 12, 2006, xác tàu đắm của U-1021 đã được tìm thấy ở vị trí 7 nmi (13 km) ngoài khơi Newquay, Cornwall, tại tọa độ 50°33.3′B 5°11.6′T / 50,555°B 5,1933°T / 50.5550; -5.1933, cạnh xác của hai tàu ngầm khác là U-325U-400. Những nghiên cứu tiếp theo cho thấy cả ba chiếc U-boat đều bị đắm trong eo biển Bristol do trúng thủy lôi thuộc bãi mìn "HW A3", do tàu rải mìn HMS Apollo rải vào ngày 3 tháng 12, 1944.[6][7]

Mục tiêu bị các tàu frigate HMS Rupert và HMS Conn đánh chìm vào ngày 30 tháng 3, giờ đây được tin là chiếc U-965.[6]

Xem thêm

Tham khảo

Chú thích

  1. 1 2 3 4 5 6 7 8 Helgason, Guðmundur. "The Type VIIC/41 U-boat U-1021". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2025.
  2. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 Helgason, Guðmundur. "Type VIIC/41". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2025.
  3. 1 2 Helgason, Guðmundur. "War Patrols by German U-boat U-1021". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2025.
  4. 1 2 3 4 Gröner, Jung & Maass 1991, tr. 43–46.
  5. Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-1021 (first patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2025.
  6. 1 2 3 "War Mystery Solved". cix.co.uk. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2010.
  7. Helgason, Guðmundur. "The loss of U 325, U 400 and U 1021: Re-assessment of German U-boat losses in World War II". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2010.

Thư mục

  • Busch, Rainer; Röll, Hans-Joachim (1999). German U-boat commanders of World War II : a biographical dictionary. Brooks, Geoffrey biên dịch. London, Annapolis, Maryland: Greenhill Books, Naval Institute Press. ISBN 1-55750-186-6.
  • Busch, Rainer; Röll, Hans-Joachim (1999). Deutsche U-Boot-Verluste von September 1939 bis Mai 1945 [German U-boat losses from September 1939 to May 1945]. Der U-Boot-Krieg (bằng tiếng Đức). Quyển IV. Hamburg, Berlin, Bonn: Mittler. ISBN 3-8132-0514-2.
  • Gröner, Erich; Jung, Dieter; Maass, Martin (1991). U-boats and Mine Warfare Vessels. German Warships 1815–1945. Quyển 2. Thomas, Keith; Magowan, Rachel biên dịch. London: Conway Maritime Press. ISBN 0-85177-593-4.
  • Neistlé, Axel (2014). German U-Boat Losses during World War II: Details of Destruction (ấn bản thứ 2). Havertown: Frontline Books. ISBN 978-1848322103.
  • Sharpe, Peter (1998). U-Boat Fact File: Detailed Service Histories of the Submarines Operated by the Kriegsmarine 1935-1945. Leicester: Midland Publishing. ISBN 1-85780-072-9.

Liên kết ngoài