Bước tới nội dung

U-999 (tàu ngầm Đức)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
U-995, một chiếc Type VIIC/41 tiêu biểu, hiện là tàu bảo tàng tại Laboe, Đức
Lịch sử
Đức Quốc Xã
Tên gọiU-999
Đặt hàng14 tháng 10, 1941
Xưởng đóng tàuBlohm & Voss, Hamburg
Số hiệu xưởng đóng tàu199
Đặt lườn19 tháng 12, 1942
Hạ thủy17 tháng 9, 1943
Nhập biên chế21 tháng 10, 1943
Tình trạngBị đánh đắm tại Flensburg trong Chiến dịch Regenbogen, 5 tháng 5, 1945[1]
Đặc điểm khái quát
Lớp tàuTàu ngầm Type VIIC/41
Trọng tải choán nước
Chiều dài
  • 67,10 m (220 ft 2 in) (chung) [2]
  • 50,50 m (165 ft 8 in) (lườn áp lực) [2]
Sườn ngang
  • 6,20 m (20 ft 4 in) (chung) [2]
  • 4,70 m (15 ft 5 in) (lườn áp lực) [2]
Chiều cao9,60 m (31 ft 6 in) [2]
Mớn nước4,74 m (15 ft 7 in) [2]
Công suất lắp đặt
  • 2.800–3.200 PS (2.100–2.400 kW; 2.800–3.200 shp) (diesel) [2]
  • 750 PS (550 kW; 740 shp) (điện) [2]
Động cơ đẩy
Tốc độ
Tầm xa
  • 8.500 hải lý (15.700 km; 9.800 mi) ở tốc độ 10 hải lý trên giờ (19 km/h; 12 mph) (nổi) [2]
  • 80 hải lý (150 km; 92 mi) ở tốc độ 4 hải lý trên giờ (7,4 km/h; 4,6 mph) (lặn) [2]
Độ sâu thử nghiệm
  • 250 m (820 ft) [2]
  • 275–325 m (902–1.066 ft) (độ sâu ép vỡ tính toán)
Thủy thủ đoàn tối đa4 sĩ quan, 40-56 thủy thủ
Vũ khí
  • 5 × ống phóng ngư lôi 53,3 cm (21 in) [2]
    • (4 × trước mũi, 1 × phía đuôi)
    • 14 × ngư lôi
  • 1 × Hải pháo 8,8 cm SK C/35, với 220 quả đạn [2]
  • 1 × pháo phòng không 3,7 cm (1,5 in) Flak M42 [2]
  • 2 × pháo phòng không 2 cm (0,79 in) C/30 [2]
Thành tích phục vụ[1][3]
Một phần của:
  • Chi hạm đội U-boat 5
  • 21 tháng 10, 1943 – 31 tháng 5, 1944
  • Chi hạm đội U-boat 6
  • 1 – 30 tháng 6, 1944
  • Chi hạm đội U-boat 24
  • 1 tháng 7, 1944 – 28 tháng 2, 1945
  • Chi hạm đội U-boat 31
  • 1 tháng 3 – 5 tháng 5, 1945
Mã nhận diện:M 52 784
Chỉ huy:
  • Trung úy Hermann Hansen
  • 21 tháng 10, 1943 – 15 tháng 7, 1944
  • Trung úy Wilhelm Peters
  • 16 tháng 7 – tháng 11, 1944
  • Trung úy Wolfgang Heibges
  • tháng 11, 1944 – 5 tháng 5, 1945
Chiến dịch:
  • 1 chuyến tuần tra:
  • 8 – 27 tháng 6, 1944
Chiến thắng:Không

U-999 là một tàu ngầm tấn công Lớp Type VII thuộc phân lớp Type VIIC/41 được Hải quân Đức Quốc Xã chế tạo trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nhập biên chế năm 1943, nó chỉ thực hiện được một chuyến tuần tra duy nhất và không đánh chìm được mục tiêu nào. U-999 sống sót qua Thế Chiến II, nhưng đã bị đánh đắm gần Flensburg vào ngày 5 tháng 5, 1945, trong khuôn khổ Chiến dịch Regenbogen, nhằm tránh để bị lọt vào tay lực lượng Đồng Minh. Xác tàu được trục vớt và tháo dỡ năm 1948.

Thiết kế và chế tạo

Thiết kế

Mặt cắt của một tàu ngầm Type VIIC

Phân lớp VIIC/41 của Tàu ngầm Type VII là một phiên bản VIIC được cải tiến nhẹ có trọng ượng chung nhẹ hơn. Chúng có trọng lượng choán nước 759 t (747 tấn Anh) khi nổi và 860 t (850 tấn Anh) khi lặn).[4] Con tàu có chiều dài chung 67,10 m (220 ft 2 in), lớp vỏ trong chịu áp lực dài 50,50 m (165 ft 8 in), mạn tàu rộng 6,20 m (20 ft 4 in), chiều cao 9,60 m (31 ft 6 in) và mớn nước 4,74 m (15 ft 7 in).[4]

Chúng trang bị hai động cơ diesel Germaniawerft F46 siêu tăng áp 6-xy lanh 4 thì, tổng công suất 2.800–3.200 PS (2.100–2.400 kW; 2.800–3.200 bhp), dẫn động hai trục chân vịt đường kính 1,23 m (4,0 ft), cho phép đạt tốc độ tối đa 17,7 kn (32,8 km/h), và tầm hoạt động tối đa 8.500 nmi (15.700 km) khi đi tốc độ đường trường 10 kn (19 km/h). Khi đi ngầm dưới nước, chúng sử dụng hai động cơ/máy phát điện Garbe, Lahmeyer & Co. RP 137/c tổng công suất 750 PS (550 kW; 740 shp). Tốc độ tối đa khi lặn là 7,6 kn (14,1 km/h), và tầm hoạt động 80 nmi (150 km) ở tốc độ 4 kn (7,4 km/h). Với lườn áp lực chắn chắn hơn, phân lớp VIIC/41 có khả năng lặn sâu đến 250 m (820 ft).[4]

Vũ khí trang bị có năm ống phóng ngư lôi 53,3 cm (21 in), bao gồm bốn ống trước mũi và một ống phía đuôi, và mang theo tổng cộng 14 quả ngư lôi, hoặc tối đa 22 quả thủy lôi TMA, hoặc 33 quả TMB. Tàu ngầm Type VIIC bố trí một hải pháo 8,8 cm SK C/35, một pháo phòng không 3,7 cm (1,5 in) Flak M42 cùng hai pháo phòng không 2 cm (0,79 in) trên boong tàu. Thủy thủ đoàn bao gồm 4 sĩ quan và 40-56 thủy thủ.[4]

Chế tạo

U-999 được đặt hàng vào ngày 14 tháng 10, 1941,[1] và được đặt lườn tại xưởng tàu Blohm & Voss ở Hamburg vào ngày 19 tháng 12, 1942.[1] Nó được hạ thủy vào ngày 17 tháng 9, 1943,[1] và nhập biên chế cùng Hải quân Đức Quốc Xã vào ngày 21 tháng 10, 1943[1] dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Trung úy Hải quân Hermann Hansen.[1]

Lịch sử hoạt động

Sau khi hoàn tất việc huấn luyện trong thành phần Chi hạm đội U-boat 5, U-999 được điều sang Chi hạm đội U-boat 6 từ ngày 1 tháng 6, 1944 để hoạt động trên tuyến đầu.[1] Nó lại được điều sang Chi hạm đội U-boat 24 từ ngày 1 tháng 7, 1944,[1] và cuối cùng sang Chi hạm đội U-boat 31 từ ngày 1 tháng 3, 1945 cho đến khi xung đột kết thúc.[1]

Vào cuối tháng 5, 1944, U-999 di chuyển từ cảng Kiel, Đức đến cảng Arendal, Na Uy,[3] rồi xuất phát từ đây vào ngày 4 tháng 6 cho chuyến tuần tra duy nhất trong chiến tranh. Con tàu chỉ hoạt động trong khu vực Bắc Hải trước khi kết thúc chuyến tuần tra tại cảng Kristiansand, Na Uy vào ngày 27 tháng 6.[5] Sau đó vào đầu tháng 7, chiếc U-boat đã đi ngang qua Bergen và Marvika cùng thuộc Na Uy để quay trở về Kiel, đến nơi vào ngày 8 tháng 7.[3]

Đến đầu tháng 4, 1945, U-999 đã di chuyển qua lại giữa Warnemünde, Hamburg và Kiel.[3] Khi Thế Chiến II đi vào giai đoạn kết thúc tại Châu Âu, chiếc tàu ngầm bị đánh đắm tại Flensburg vào ngày 5 tháng 5, 1945, trong khuôn khổ Chiến dịch Regenbogen, nhằm tránh để bị lọt vào tay lực lượng Đồng Minh.[1] Xác tàu đắm được trục vớt và tháo dỡ vào năm 1948.[1]

Xem thêm

Tham khảo

Chú thích

  1. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Helgason, Guðmundur. "The Type VIIC/41 U-boat U-999". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2025.
  2. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 Helgason, Guðmundur. "Type VIIC/41". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2025.
  3. 1 2 3 4 Helgason, Guðmundur. "War Patrols by German U-boat U-999". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2025.
  4. 1 2 3 4 Gröner, Jung & Maass 1991, tr. 43–46.
  5. Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-999 (first patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2025.

Thư mục

  • Busch, Rainer; Röll, Hans-Joachim (1999). German U-boat commanders of World War II : a biographical dictionary. Brooks, Geoffrey biên dịch. London, Annapolis, Maryland: Greenhill Books, Naval Institute Press. ISBN 1-55750-186-6.
  • Busch, Rainer; Röll, Hans-Joachim (1999). Deutsche U-Boot-Verluste von September 1939 bis Mai 1945 [German U-boat losses from September 1939 to May 1945]. Der U-Boot-Krieg (bằng tiếng Đức). Quyển IV. Hamburg, Berlin, Bonn: Mittler. ISBN 3-8132-0514-2.
  • Gröner, Erich; Jung, Dieter; Maass, Martin (1991). U-boats and Mine Warfare Vessels. German Warships 1815–1945. Quyển 2. Thomas, Keith; Magowan, Rachel biên dịch. London: Conway Maritime Press. ISBN 0-85177-593-4.
  • Neistlé, Axel (2014). German U-Boat Losses during World War II: Details of Destruction (ấn bản thứ 2). Havertown: Frontline Books. ISBN 978-1848322103.
  • Sharpe, Peter (1998). U-Boat Fact File: Detailed Service Histories of the Submarines Operated by the Kriegsmarine 1935-1945. Leicester: Midland Publishing. ISBN 1-85780-072-9.

Liên kết ngoài