Bước tới nội dung

U-483 (tàu ngầm Đức)

Tàu ngầm U-boat Type VIIC
Lịch sử
Đức Quốc Xã
Tên gọiU-483
Đặt hàng5 tháng 6, 1941
Xưởng đóng tàuDeutsche Werke, Kiel
Số hiệu xưởng đóng tàu318
Đặt lườn20 tháng 3, 1943
Hạ thủy30 tháng 10, 1943
Nhập biên chế22 tháng 12, 1943
Tình trạng
Đặc điểm khái quát
Lớp tàuTàu ngầm Type VIIC
Trọng tải choán nước
Chiều dài
  • 67,10 m (220 ft 2 in) (chung) [2]
  • 50,50 m (165 ft 8 in) (lườn áp lực) [2]
Sườn ngang
  • 6,20 m (20 ft 4 in) (chung) [2]
  • 4,70 m (15 ft 5 in) (lườn áp lực) [2]
Chiều cao9,60 m (31 ft 6 in) [2]
Mớn nước4,74 m (15 ft 7 in) [2]
Công suất lắp đặt
  • 2.800–3.200 PS (2.100–2.400 kW; 2.800–3.200 shp) (diesel) [2]
  • 750 PS (550 kW; 740 shp) (điện) [2]
Động cơ đẩy
Tốc độ
Tầm xa
  • 8.500 hải lý (15.700 km; 9.800 mi) ở tốc độ 10 hải lý trên giờ (19 km/h; 12 mph) (nổi) [2]
  • 80 hải lý (150 km; 92 mi) ở tốc độ 4 hải lý trên giờ (7,4 km/h; 4,6 mph) (lặn) [2]
Độ sâu thử nghiệm
  • 230 m (750 ft) [2]
  • 250–295 m (820–968 ft) (độ sâu ép vỡ tính toán)
Thủy thủ đoàn tối đa4 sĩ quan, 40-56 thủy thủ
Hệ thống cảm biến và xử lýGruppenhorchgerät
Vũ khí
  • 5 × ống phóng ngư lôi 53,3 cm (21 in) [2]
    • (4 × trước mũi, 1 × phía đuôi)
    • 14 × ngư lôi hoặc
    • 26 × mìn TMA hoặc
    • 39 × mìn TMB
  • 1 × Hải pháo 8,8 cm SK C/35, với 220 quả đạn [2]
  • 2 × pháo phòng không 2 cm (0,79 in) C/30 [2]
Thành tích phục vụ[1][3]
Một phần của:
  • Chi hạm đội U-boat 5
  • 22 tháng 12, 1943 – 31 tháng 7, 1944
  • Chi hạm đội U-boat 3
  • 1 tháng 8 – 4 tháng 9, 1944
  • Chi hạm đội U-boat 11
  • 5 tháng 9, 1944 – 8 tháng 5, 1945
Mã nhận diện:M 13 974
Chỉ huy:
  • Đại úy Hans-Joachim von Morstein
  • 22 tháng 12, 1943 – 9 tháng 5, 1945
Chiến dịch:
  • 2 chuyến tuần tra:
  • '1: 3 tháng 10 – 21 tháng 11, 1944
  • 2: 7 tháng 2 – 26 tháng 3, 1945
Chiến thắng:1 tàu chiến tổn thất toàn bộ
(1.300 tấn)

U-483 là một tàu ngầm tấn công Lớp Type VII thuộc phân lớp Type VIIC được Hải quân Đức Quốc Xã chế tạo trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nhập biên chế năm 1943, nó đã thực hiện được hai chuyến tuần tra và gây tổn thất toàn bộ cho một tàu chiến tải trọng 1.300 tấn. U-483 đã sống sót qua Thế Chiến II, đầu hàng lực lượng Đồng Minh tại Trondheim, Na Uy vào ngày 9 tháng 5, 1945, và cuối cùng bị đánh đắm ngoài khơi Scotland trong khuôn khổ Chiến dịch Deadlight vào ngày 16 tháng 12, 1945.

Thiết kế và chế tạo

Thiết kế

Sơ đồ các mặt cắt một tàu ngầm Type VIIC

Phân lớp VIIC của Tàu ngầm Type VII là một phiên bản VIIB được kéo dài thêm. Chúng có trọng lượng choán nước 769 t (757 tấn Anh) khi nổi và 871 t (857 tấn Anh) khi lặn).[4] Con tàu có chiều dài chung 67,10 m (220 ft 2 in), lớp vỏ trong chịu áp lực dài 50,50 m (165 ft 8 in), mạn tàu rộng 6,20 m (20 ft 4 in), chiều cao 9,60 m (31 ft 6 in) và mớn nước 4,74 m (15 ft 7 in).[4]

Chúng trang bị hai động cơ diesel Germaniawerft F46 siêu tăng áp 6-xy lanh 4 thì, tổng công suất 2.800–3.200 PS (2.100–2.400 kW; 2.800–3.200 bhp), dẫn động hai trục chân vịt đường kính 1,23 m (4,0 ft), cho phép đạt tốc độ tối đa 17,7 kn (32,8 km/h), và tầm hoạt động tối đa 8.500 nmi (15.700 km) khi đi tốc độ đường trường 10 kn (19 km/h). Khi đi ngầm dưới nước, chúng sử dụng hai động cơ/máy phát điện Garbe, Lahmeyer & Co. RP 137/c tổng công suất 750 PS (550 kW; 740 shp). Tốc độ tối đa khi lặn là 7,6 kn (14,1 km/h), và tầm hoạt động 80 nmi (150 km) ở tốc độ 4 kn (7,4 km/h). Con tàu có khả năng lặn sâu đến 230 m (750 ft).[4]

Vũ khí trang bị có năm ống phóng ngư lôi 53,3 cm (21 in), bao gồm bốn ống trước mũi và một ống phía đuôi, và mang theo tổng cộng 14 quả ngư lôi, hoặc tối đa 22 quả thủy lôi TMA, hoặc 33 quả TMB. Tàu ngầm Type VIIC bố trí một hải pháo 8,8 cm SK C/35 cùng một pháo phòng không 2 cm (0,79 in) trên boong tàu. Thủy thủ đoàn bao gồm 4 sĩ quan và 40-56 thủy thủ.[4]

Chế tạo

U-483 được đặt hàng vào ngày 5 tháng 6, 1941,[1] và được đặt lườn tại xưởng tàu của hãng Deutsche Werke AG ở Kiel vào ngày 20 tháng 3, 1943.[1] Nó được hạ thủy vào ngày 30 tháng 10, 1943,[1] và nhập biên chế cùng Hải quân Đức Quốc Xã vào ngày 22 tháng 12, 1943[1] dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Đại úy Hải quân Hans-Joachim von Morstein.[1]

Lịch sử hoạt động

Chiếc tàu ngầm được nâng cấp vào tháng 8, 1944, được trang bị ống hơi nhằm cải thiện tính năng đi ngầm dưới nước.[1] Sau khi hoàn tất việc huấn luyện trong thành phần Chi hạm đội U-boat 5, U-483 được điều sang Chi hạm đội U-boat 8 từ ngày 1 tháng 8, 1944 để hoạt động trên tuyến đầu,[1] rồi lại được điều sang Chi hạm đội U-boat 11 từ ngày 5 tháng 9 cho đến khi xung đột kết thúc.[1]

Chuyến tuần tra thứ nhất

U-483 đã di chuyển từ cảng Kiel, Đức đến các cảng HortenStavanger cùng thuộc Na Uy vào đầu tháng 9, 1944.[3] Nó khởi hành từ Stavanger vào ngày 3 tháng 10 cho chuyến tuần tra đầu tiên trong chiến tranh, và đã băng qua khe GI-UK giữa các quần đảo ShetlandFaroe để vòng qua quần đảo Anh nhằm hoạt động tại vùng biển Đại Tây Dương về phía Bắc Ireland,[5] Vào ngày 12 tháng 10, ở vị trí về phía Tây Bắc Scotland, một trục trặc của hệ thống ống hơi con tàu đã khiến một thủy thủ tử nạn do ngộ độc khí carbon dioxide.[1]

Đến ngày 1 tháng 11, ở vị trí ngoài khơi mũi Malin, Ireland, U-483 phóng ngư lôi tấn công tàu frigate HMS Whitaker của Hải quân Hoàng gia Anh. Quả ngư lôi đánh trúng đích đã làm cho phần mũi tàu nổ tung, và khiến hạm trưởng cùng mọi sĩ quan và 84 thủy thủ tử trận. Tuy nhiên con tàu do Hoa Kỳ chế tạo này đã không đắm, hỏa hoạn được dập tắt và ngăn chặn việc ngập nước trước khi được kéo về cảng Londonderry, và sau đó đến Belfast, Bắc Ireland. Tuy nhiên Whitaker bị xem là một tổn thất toàn bộ.[6] U-483 kết thúc chuyến tuần tra khi quay trở về cảng Bergen, Na Uy vào ngày 21 tháng 11.[3]

Chuyến tuần tra thứ hai

Xuất phát từ cảng Bergen vào ngày 7 tháng 2, 1945 cho chuyến tuần tra thứ hai, cũng là chuyến cuối cùng, U-483 đã xâm nhập vào biển Ireland, nhưng không đánh chìm được mục tiêu nào. Nó quay trở về cảng Trondheim, Na Uy vào ngày 26 tháng 3.[7]

Số phận

U-483 đã đầu hàng lực lượng Đồng Minh tại Trondheim vào ngày 9 tháng 5, 1945.[1] Sau đó nó di chuyển đến Loch Ryan, Scotland, rồi bị đánh chìm ngoài khơi Scotland trong khuôn khổ Chiến dịch Deadlight, tại tọa độ 56°10′B 10°05′T / 56,167°B 10,083°T / 56.167; -10.083 vào ngày 16 tháng 12, 1945.[1]

Tóm tắt chiến công

U-483 đã gây tổn thất toàn bộ cho một tàu chiến tải trọng 1.300 tấn:

NgàyTên tàuQuốc tịchTải trọng[Ghi chú 1]Số phận[8]
1 tháng 11, 1944HMS Whitaker Hải quân Hoàng gia Anh1.300Tổn thất toàn bộ

Xem thêm

Tham khảo

Ghi chú

  1. Tàu buôn theo tấn đăng ký toàn phần. Tàu quân sự theo trọng lượng choán nước.

Chú thích

  1. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 Helgason, Guðmundur. "The Type VIIC U-boat U-483". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2025.
  2. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 Helgason, Guðmundur. "Type VIIC". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2025.
  3. 1 2 3 Helgason, Guðmundur. "War Patrols by German U-boat U-483". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2025.
  4. 1 2 3 4 Gröner, Jung & Maass 1991, tr. 43–46.
  5. Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-483 (first patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2025.
  6. Helgason, Guðmundur. "HMS Whitaker (K 580) – British Frigate". Ships hit by U-boats – uboat.net. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2025.
  7. Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-483 (second patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2025.
  8. Helgason, Guðmundur. "Ships hit by U-483". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2025.

Thư mục

  • Busch, Rainer; Röll, Hans-Joachim (1999). German U-boat commanders of World War II : a biographical dictionary. Brooks, Geoffrey biên dịch. London, Annapolis, Maryland: Greenhill Books, Naval Institute Press. ISBN 1-55750-186-6.
  • Busch, Rainer; Röll, Hans-Joachim (1999). Deutsche U-Boot-Verluste von September 1939 bis Mai 1945 [German U-boat losses from September 1939 to May 1945]. Der U-Boot-Krieg (bằng tiếng Đức). Quyển IV. Hamburg, Berlin, Bonn: Mittler. ISBN 3-8132-0514-2.
  • Gröner, Erich; Jung, Dieter; Maass, Martin (1991). U-boats and Mine Warfare Vessels. German Warships 1815–1945. Quyển 2. Thomas, Keith; Magowan, Rachel biên dịch. London: Conway Maritime Press. ISBN 0-85177-593-4.
  • Kemp, Paul (1997). U-Boats Destroyed - German Submarine Losses in the World Wars. Arms & Armour. ISBN 1-85409-515-3.
  • Neistlé, Axel (2014). German U-Boat Losses during World War II: Details of Destruction (ấn bản thứ 2). Havertown: Frontline Books. ISBN 978-1848322103.
  • Sharpe, Peter (1998). U-Boat Fact File: Detailed Service Histories of the Submarines Operated by the Kriegsmarine 1935-1945. Leicester: Midland Publishing. ISBN 1-85780-072-9.

Liên kết ngoài

  • Helgason, Guðmundur. "The Type VIIC boat U-483". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2025.
  • Hofmann, Markus. "U 483". Deutsche U-Boote 1935-1945 - u-boot-archiv.de (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2025.