Bước tới nội dung

U-1279 (tàu ngầm Đức)

U-995, một chiếc Type VIIC/41 tiêu biểu, hiện là tàu bảo tàng tại Laboe, Đức
Lịch sử
Đức Quốc Xã
Tên gọiU-1279
Đặt hàng13 tháng 6, 1942
Xưởng đóng tàuBremer Vulkan-Vegesacker Werft, Bremen
Số hiệu xưởng đóng tàu74
Đặt lườn26 tháng 8, 1943
Hạ thủy3 tháng 5, 1944
Nhập biên chế5 tháng 7, 1944
Tình trạngBị tàu chiến Anh và máy bay Hoa Kỳ thả mìn sâu đánh chìm trong eo biển Manche, 27 tháng 2, 1945 [1]
Đặc điểm khái quát
Lớp tàuTàu ngầm Type VIIC/41
Trọng tải choán nước
Chiều dài
  • 67,10 m (220 ft 2 in) (chung) [2]
  • 50,50 m (165 ft 8 in) (lườn áp lực) [2]
Sườn ngang
  • 6,20 m (20 ft 4 in) (chung) [2]
  • 4,70 m (15 ft 5 in) (lườn áp lực) [2]
Chiều cao9,60 m (31 ft 6 in) [2]
Mớn nước4,74 m (15 ft 7 in) [2]
Công suất lắp đặt
  • 2.800–3.200 PS (2.100–2.400 kW; 2.800–3.200 shp) (diesel) [2]
  • 750 PS (550 kW; 740 shp) (điện) [2]
Động cơ đẩy
Tốc độ
Tầm xa
  • 8.500 hải lý (15.700 km; 9.800 mi) ở tốc độ 10 hải lý trên giờ (19 km/h; 12 mph) (nổi) [2]
  • 80 hải lý (150 km; 92 mi) ở tốc độ 4 hải lý trên giờ (7,4 km/h; 4,6 mph) (lặn) [2]
Độ sâu thử nghiệm
  • 250 m (820 ft) [2]
  • 275–325 m (902–1.066 ft) (độ sâu ép vỡ tính toán)
Thủy thủ đoàn tối đa4 sĩ quan, 40-56 thủy thủ
Vũ khí
  • 5 × ống phóng ngư lôi 53,3 cm (21 in) [2]
    • (4 × trước mũi, 1 × phía đuôi)
    • 14 × ngư lôi
  • 1 × Hải pháo 8,8 cm SK C/35, với 220 quả đạn [2]
  • 1 × pháo phòng không 3,7 cm (1,5 in) Flak M42 [2]
  • 2 × pháo phòng không 2 cm (0,79 in) C/30 [2]
Thành tích phục vụ[1][3]
Một phần của:
  • Chi hạm đội U-boat 8
  • 5 tháng 7, 1944 – 31 tháng 1, 1945
  • Chi hạm đội U-boat 11
  • 1 – 27 tháng 2, 1945
Mã nhận diện:M 30 807
Chỉ huy:
  • Trung úy Hans Falke
  • 5 tháng 7, 1944 – 27 tháng 2, 1945
Chiến dịch:
  • 1 chuyến tuần tra:
  • 29 tháng 1 – 27 tháng 2, 1945
Chiến thắng:Không

U-1279 là một tàu ngầm tấn công Lớp Type VII thuộc phân lớp Type VIIC/41 được Hải quân Đức Quốc Xã chế tạo trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nhập biên chế năm 1944, nó chỉ thực hiện được một chuyến tuần tra duy nhất và không đánh chìm được mục tiêu nào, trước khi bị các tàu frigate HMS Labuan, HMS Loch Fada và tàu sà lúp HMS Wild Goose của Hải quân Hoàng gia Anh, phối hợp cùng một máy bay ném bom B-24 Liberator của Hải quân Hoa Kỳ thả mìn sâu đánh chìm trong eo biển Manche vào ngày 27 tháng 2, 1945.

Thiết kế và chế tạo

Thiết kế

Mặt cắt của một tàu ngầm Type VIIC

Phân lớp VIIC/41 của Tàu ngầm Type VII là một phiên bản VIIC được cải tiến nhẹ có trọng ượng chung nhẹ hơn. Chúng có trọng lượng choán nước 759 t (747 tấn Anh) khi nổi và 860 t (850 tấn Anh) khi lặn).[4] Con tàu có chiều dài chung 67,10 m (220 ft 2 in), lớp vỏ trong chịu áp lực dài 50,50 m (165 ft 8 in), mạn tàu rộng 6,20 m (20 ft 4 in), chiều cao 9,60 m (31 ft 6 in) và mớn nước 4,74 m (15 ft 7 in).[4]

Chúng trang bị hai động cơ diesel Germaniawerft F46 siêu tăng áp 6-xy lanh 4 thì, tổng công suất 2.800–3.200 PS (2.100–2.400 kW; 2.800–3.200 bhp), dẫn động hai trục chân vịt đường kính 1,23 m (4,0 ft), cho phép đạt tốc độ tối đa 17,7 kn (32,8 km/h), và tầm hoạt động tối đa 8.500 nmi (15.700 km) khi đi tốc độ đường trường 10 kn (19 km/h). Khi đi ngầm dưới nước, chúng sử dụng hai động cơ/máy phát điện Garbe, Lahmeyer & Co. RP 137/c tổng công suất 750 PS (550 kW; 740 shp). Tốc độ tối đa khi lặn là 7,6 kn (14,1 km/h), và tầm hoạt động 80 nmi (150 km) ở tốc độ 4 kn (7,4 km/h). Với lườn áp lực chắn chắn hơn, phân lớp VIIC/41 có khả năng lặn sâu đến 250 m (820 ft).[4]

Vũ khí trang bị có năm ống phóng ngư lôi 53,3 cm (21 in), bao gồm bốn ống trước mũi và một ống phía đuôi, và mang theo tổng cộng 14 quả ngư lôi, hoặc tối đa 22 quả thủy lôi TMA, hoặc 33 quả TMB. Tàu ngầm Type VIIC bố trí một hải pháo 8,8 cm SK C/35, một pháo phòng không 3,7 cm (1,5 in) Flak M42 cùng hai pháo phòng không 2 cm (0,79 in) trên boong tàu. Thủy thủ đoàn bao gồm 4 sĩ quan và 40-56 thủy thủ.[4]

Chế tạo

U-1279 được đặt hàng vào ngày 13 tháng 6, 1942,[1] và được đặt lườn tại xưởng tàu Vegesacker của hãng Bremer Vulkan ở Bremen vào ngày 26 tháng 8, 1943.[1] Nó được hạ thủy vào ngày 3 tháng 5, 1944,[5] và nhập biên chế cùng Hải quân Đức Quốc Xã vào ngày 5 tháng 7, 1944[1] dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Trung úy Hải quân Hans Falke.[1]

Lịch sử hoạt động

Sau khi hoàn tất việc huấn luyện trong thành phần Chi hạm đội U-boat 8, U-1279 được điều sang Chi hạm đội U-boat 11 từ ngày 1 tháng 2, 1945 để hoạt động trên tuyến đầu cho đến khi bị mất.[1]

Vào cuối tháng 1, 1945, U-1279 di chuyển từ cảng Kiel, Đức đến cảng Horten, Na Uy,[3] rồi xuất phát từ đây vào ngày 29 tháng 1 cho chuyến tuần tra duy nhất trong chiến tranh. Nó đã tiến ra Bắc Hải và băng qua khe GI-UK giữa các quần đảo ShetlandFaroe để vòng qua quần đảo Anh và hoạt động trong khu vực Bắc Đại Tây Dương về phía Tây Nam Ireland.[6]

Trong eo biển Manche vào ngày 27 tháng 2, chiếc tàu ngầm bị phát hiện, và bị các tàu frigate HMS Labuan, HMS Loch Fada và tàu sà lúp HMS Wild Goose của Hải quân Hoàng gia Anh, phối hợp cùng một máy bay ném bom B-24 Liberator thuộc Liên đội VPB-112 Hải quân Hoa Kỳ thả mìn sâu tấn công. U-1279 bị đánh chìm ở vị trí về phía Đông quần đảo Scilly, tại tọa độ 49°46′B 05°47′T / 49,767°B 5,783°T / 49.767; -5.783.[1] Toàn bộ 48 thành viên thủy thủ đoàn của U-1279 đều đã tử trận.[1]

Xem thêm

Tham khảo

Chú thích

  1. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 Helgason, Guðmundur. "The Type VIIC/41 U-boat U-1279". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2025.
  2. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 Helgason, Guðmundur. "Type VIIC/41". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2025.
  3. 1 2 Helgason, Guðmundur. "War Patrols by German U-boat U-1279". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2025.
  4. 1 2 3 4 Gröner, Jung & Maass 1991, tr. 43–46.
  5. Hofmann, Markus. "U 1279". Deutsche U-Boote 1935-1945 - u-boot-archiv.de (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2025.
  6. Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-1279 (first patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2025.

Thư mục

  • Busch, Rainer; Röll, Hans-Joachim (1999). German U-boat commanders of World War II : a biographical dictionary. Brooks, Geoffrey biên dịch. London, Annapolis, Maryland: Greenhill Books, Naval Institute Press. ISBN 1-55750-186-6.
  • Busch, Rainer; Röll, Hans-Joachim (1999). Deutsche U-Boot-Verluste von September 1939 bis Mai 1945 [German U-boat losses from September 1939 to May 1945]. Der U-Boot-Krieg (bằng tiếng Đức). Quyển IV. Hamburg, Berlin, Bonn: Mittler. ISBN 3-8132-0514-2.
  • Gröner, Erich; Jung, Dieter; Maass, Martin (1991). U-boats and Mine Warfare Vessels. German Warships 1815–1945. Quyển 2. Thomas, Keith; Magowan, Rachel biên dịch. London: Conway Maritime Press. ISBN 0-85177-593-4.
  • Neistlé, Axel (2014). German U-Boat Losses during World War II: Details of Destruction (ấn bản thứ 2). Havertown: Frontline Books. ISBN 978-1848322103.
  • Sharpe, Peter (1998). U-Boat Fact File: Detailed Service Histories of the Submarines Operated by the Kriegsmarine 1935-1945. Leicester: Midland Publishing. ISBN 1-85780-072-9.

Liên kết ngoài

  • Helgason, Guðmundur. "The Type VIIC boat U-1279". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2025.
  • Hofmann, Markus. "U 1279". Deutsche U-Boote 1935-1945 - u-boot-archiv.de (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2025.