U-981 (tàu ngầm Đức)
Những người sống sót của tàu ngầm U-981 tập trung trên boong tàu | |
| Lịch sử | |
|---|---|
| Tên gọi | U-981 |
| Đặt hàng | 5 tháng 6, 1941 |
| Xưởng đóng tàu | Blohm & Voss, Hamburg |
| Số hiệu xưởng đóng tàu | 181 |
| Đặt lườn | 24 tháng 8, 1942 |
| Hạ thủy | 29 tháng 4, 1943 |
| Nhập biên chế | 3 tháng 6, 1943 |
| Tình trạng | Bị đánh chìm do trúng thủy lôi và mìn sâu trong vịnh Biscay, 12 tháng 8, 1944 [1] |
| Đặc điểm khái quát | |
| Lớp tàu | Tàu ngầm Type VIIC |
| Trọng tải choán nước | |
| Chiều dài | |
| Sườn ngang | |
| Chiều cao | 9,60 m (31 ft 6 in) [2] |
| Mớn nước | 4,74 m (15 ft 7 in) [2] |
| Công suất lắp đặt | |
| Động cơ đẩy |
|
| Tốc độ |
|
| Tầm xa | |
| Độ sâu thử nghiệm |
|
| Thủy thủ đoàn tối đa | 4 sĩ quan, 40-56 thủy thủ |
| Hệ thống cảm biến và xử lý | Gruppenhorchgerät |
| Vũ khí | |
| Thành tích phục vụ[1][3] | |
| Một phần của: |
|
| Mã nhận diện: | M 52 873 |
| Chỉ huy: |
|
| Chiến dịch: |
|
| Chiến thắng: | Không |
U-981 là một tàu ngầm tấn công Lớp Type VII thuộc phân lớp Type VIIC được Hải quân Đức Quốc Xã chế tạo trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nhập biên chế năm 1943, nó đã thực hiện được ba chuyến tuần tra nhưng không đánh chìm được mục tiêu nào. Trong chuyến tuần tra cuối cùng , U-981 bị hư hại nặng do trúng thủy lôi rải từ máy bay, và cuối cùng bị một máy bay ném bom Handley Page Halifax của Không quân Hoàng gia Anh thả mìn sâu đánh chìm trong vịnh Biscay vào ngày 12 tháng 8, 1944.
Thiết kế và chế tạo
Thiết kế

Phân lớp VIIC của Tàu ngầm Type VII là một phiên bản VIIB được kéo dài thêm. Chúng có trọng lượng choán nước 769 t (757 tấn Anh) khi nổi và 871 t (857 tấn Anh) khi lặn).[4] Con tàu có chiều dài chung 67,10 m (220 ft 2 in), lớp vỏ trong chịu áp lực dài 50,50 m (165 ft 8 in), mạn tàu rộng 6,20 m (20 ft 4 in), chiều cao 9,60 m (31 ft 6 in) và mớn nước 4,74 m (15 ft 7 in).[4]
Chúng trang bị hai động cơ diesel Germaniawerft F46 siêu tăng áp 6-xy lanh 4 thì, tổng công suất 2.800–3.200 PS (2.100–2.400 kW; 2.800–3.200 bhp), dẫn động hai trục chân vịt đường kính 1,23 m (4,0 ft), cho phép đạt tốc độ tối đa 17,7 kn (32,8 km/h), và tầm hoạt động tối đa 8.500 nmi (15.700 km) khi đi tốc độ đường trường 10 kn (19 km/h). Khi đi ngầm dưới nước, chúng sử dụng hai động cơ/máy phát điện Garbe, Lahmeyer & Co. RP 137/c tổng công suất 750 PS (550 kW; 740 shp). Tốc độ tối đa khi lặn là 7,6 kn (14,1 km/h), và tầm hoạt động 80 nmi (150 km) ở tốc độ 4 kn (7,4 km/h). Con tàu có khả năng lặn sâu đến 230 m (750 ft).[4]
Vũ khí trang bị có năm ống phóng ngư lôi 53,3 cm (21 in), bao gồm bốn ống trước mũi và một ống phía đuôi, và mang theo tổng cộng 14 quả ngư lôi, hoặc tối đa 22 quả thủy lôi TMA, hoặc 33 quả TMB. Tàu ngầm Type VIIC bố trí một hải pháo 8,8 cm SK C/35 cùng một pháo phòng không 2 cm (0,79 in) trên boong tàu. Thủy thủ đoàn bao gồm 4 sĩ quan và 40-56 thủy thủ.[4]
Chế tạo
U-981 được đặt hàng vào ngày 5 tháng 6, 1941,[1] và được đặt lườn tại xưởng tàu của hãng Blohm & Voss ở Hamburg vào ngày 24 tháng 8, 1942.[1] Nó được hạ thủy vào ngày 29 tháng 4, 1943,[1] và nhập biên chế cùng Hải quân Đức Quốc Xã vào ngày 3 tháng 6, 1943[1] dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Trung úy Hải quân Walter Sitek.[1]
Lịch sử hoạt động
Sau khi hoàn tất việc huấn luyện trong thành phần Chi hạm đội U-boat 5, U-981 được điều sang Chi hạm đội U-boat 6 từ ngày 1 tháng 12, 1944 để hoạt động trên tuyến đầu cho đến khi bị mất.[1]
Chuyến tuần tra thứ nhất
U-981 xuất phát từ cảng Kiel, Đức vào ngày 27 tháng 11, 1943 cho chuyến tuần tra đầu tiên trong chiến tranh. Nó đã tiến ra Bắc Hải, rồi băng qua khe GI-UK giữa Iceland và quần đảo Faroe để vòng qua phía Bắc quần đảo Anh, và hoạt động tại vùng biển Bắc Đại Tây Dương về phía Nam Iceland. Nó không đánh chìm được mục tiêu nào, nên kết thúc chuyến tuần tra và đi đến cảng St. Nazaire, bên bờ Đại Tây Dương của Pháp, vào ngày 30 tháng 1, 1944.[5]
Chuyến tuần tra thứ hai
Vào giữa tháng 4, 1944, U-981 chuyển căn cứ hoạt động từ St. Nazaire đến cảng Lorient cùng bên bờ Đại Tây Dương của Pháp,[3] rồi khởi hành từ đây vào ngày 6 tháng 6 cho chuyến tuần tra thứ hai. Nó đã hoạt động ở lối tiếp cận phía Tây của eo biển Manche để đánh phá tàu bè Đồng Minh tham gia Chiến dịch Overlord, nhưng đã không thành công. Chiếc U-boat quay trở về căn cứ Lorient vào ngày 17 tháng 6.[6]
Chuyến tuần tra thứ ba – Bị mất
U-981 xuất phát từ cảng Lorient vào ngày 7 tháng 8 cho chuyến tuần tra thứ ba, cũng là chuyến cuối cùng, và di chuyển dọc theo bờ biển của Pháp hướng xuống phía Đông Nam.[7] Đến ngày 12 tháng 8, ở vị trí ngoài khơi La Rochelle, Pháp, chiếc tàu ngầm va phải thủy lôi do máy bay Đồng Minh rải, và sau đó bị một máy bay ném bom Handley Page Halifax thuộc Liên đội 502 Không quân Hoàng gia Anh thả mìn sâu đánh chìm trong vịnh Biscay, tại tọa độ 46°09′B 01°35′T / 46,15°B 1,583°T.[1] Trong tổng số 52 thành viên thủy thủ đoàn của U-981, 40 người đã sống sót và được cứu vớt.[1]
"Bầy sói" tham gia
U-981 từng tham gia năm bầy sói:
- Coronel 1 (14 – 17 tháng 12, 1943)
- Sylt (18 – 23 tháng 12, 1943)
- Rügen 1 (23 – 28 tháng 12, 1943)
- Rügen 2 (28 tháng 12, 1943 – 7 tháng 1, 1944)
- Rügen (7 – 26 tháng 1, 1944)
Xem thêm
Tham khảo
Chú thích
- 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Helgason, Guðmundur. "The Type VIIC U-boat U-981". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2025.
- 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 Helgason, Guðmundur. "Type VIIC". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2025.
- 1 2 Helgason, Guðmundur. "War Patrols by German U-boat U-981". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2025.
- 1 2 3 4 Gröner, Jung & Maass 1991, tr. 43–46.
- ↑ Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-981 (first patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2025.
- ↑ Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-981 (second patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2025.
- ↑ Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-981 (third patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2025.
Thư mục
- Busch, Rainer; Röll, Hans-Joachim (1999). German U-boat commanders of World War II : a biographical dictionary. Brooks, Geoffrey biên dịch. London, Annapolis, Maryland: Greenhill Books, Naval Institute Press. ISBN 1-55750-186-6.
- Busch, Rainer; Röll, Hans-Joachim (1999). Deutsche U-Boot-Verluste von September 1939 bis Mai 1945 [German U-boat losses from September 1939 to May 1945]. Der U-Boot-Krieg (bằng tiếng Đức). Quyển IV. Hamburg, Berlin, Bonn: Mittler. ISBN 3-8132-0514-2.
- Gröner, Erich; Jung, Dieter; Maass, Martin (1991). U-boats and Mine Warfare Vessels. German Warships 1815–1945. Quyển 2. Thomas, Keith; Magowan, Rachel biên dịch. London: Conway Maritime Press. ISBN 0-85177-593-4.
- Neistlé, Axel (2014). German U-Boat Losses during World War II: Details of Destruction (ấn bản thứ 2). Havertown: Frontline Books. ISBN 978-1848322103.
- Sharpe, Peter (1998). U-Boat Fact File: Detailed Service Histories of the Submarines Operated by the Kriegsmarine 1935-1945. Leicester: Midland Publishing. ISBN 1-85780-072-9.
Liên kết ngoài
- Helgason, Guðmundur. "The Type VIIC boat U-981". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2025.
- Hofmann, Markus. "U 981". Deutsche U-Boote 1935-1945 - u-boot-archiv.de (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2025.