Bước tới nội dung

U-967 (tàu ngầm Đức)

Tàu ngầm U-967 tại cảng Toulon, Pháp, tháng 4 năm 1944
Lịch sử
Đức Quốc Xã
Tên gọiU-967
Đặt hàng5 tháng 6, 1941
Xưởng đóng tàuBlohm & Voss, Hamburg
Số hiệu xưởng đóng tàu167
Đặt lườn16 tháng 5, 1942
Hạ thủy4 tháng 2, 1943
Nhập biên chế11 tháng 3, 1943
Tình trạngBị đánh đắm tại Toulon, 19 tháng 8, 1944[1]
Đặc điểm khái quát
Lớp tàuTàu ngầm Type VIIC
Trọng tải choán nước
Chiều dài
  • 67,10 m (220 ft 2 in) (chung) [2]
  • 50,50 m (165 ft 8 in) (lườn áp lực) [2]
Sườn ngang
  • 6,20 m (20 ft 4 in) (chung) [2]
  • 4,70 m (15 ft 5 in) (lườn áp lực) [2]
Chiều cao9,60 m (31 ft 6 in) [2]
Mớn nước4,74 m (15 ft 7 in) [2]
Công suất lắp đặt
  • 2.800–3.200 PS (2.100–2.400 kW; 2.800–3.200 shp) (diesel) [2]
  • 750 PS (550 kW; 740 shp) (điện) [2]
Động cơ đẩy
Tốc độ
Tầm xa
  • 8.500 hải lý (15.700 km; 9.800 mi) ở tốc độ 10 hải lý trên giờ (19 km/h; 12 mph) (nổi) [2]
  • 80 hải lý (150 km; 92 mi) ở tốc độ 4 hải lý trên giờ (7,4 km/h; 4,6 mph) (lặn) [2]
Độ sâu thử nghiệm
  • 230 m (750 ft) [2]
  • 250–295 m (820–968 ft) (độ sâu ép vỡ tính toán)
Thủy thủ đoàn tối đa4 sĩ quan, 40-56 thủy thủ
Hệ thống cảm biến và xử lýGruppenhorchgerät
Vũ khí
  • 5 × ống phóng ngư lôi 53,3 cm (21 in) [2]
    • (4 × trước mũi, 1 × phía đuôi)
    • 14 × ngư lôi hoặc
    • 26 × mìn TMA hoặc
    • 39 × mìn TMB
  • 1 × Hải pháo 8,8 cm SK C/35, với 220 quả đạn [2]
  • 2 × pháo phòng không 2 cm (0,79 in) C/30 [2]
Thành tích phục vụ[1][3]
Một phần của:
  • Chi hạm đội U-boat 5
  • 11 tháng 3 – 30 tháng 9, 1943
  • Chi hạm đội U-boat 6
  • 1 tháng 10, 1943 – 29 tháng 2, 1944
  • Chi hạm đội U-boat 29
  • 1 tháng 3 – 12 tháng 7, 1944
Mã nhận diện:M 51 480
Chỉ huy:
  • Trung úy Herbert Loeder
  • 11 tháng 3, 1943 – tháng 4, 1944
  • Thiếu tá Albrecht Brandi
  • tháng 4 – 1 tháng 7, 1944
  • Trung úy Heinz-Eugen Eberbach[Ghi chú 1]
  • 2 – 12 tháng 7, 1944
Chiến dịch:
  • 3 chuyến tuần tra:
  • 1: 11 tháng 10 – 1 tháng 12, 1943
  • 2: 20 tháng 1 – 23 tháng 2, 1944
  • 3: 11 tháng 4 – 17 tháng 5, 1944
Chiến thắng:1 tàu chiến bị đánh chìm
(1.300 tấn)

U-967 là một tàu ngầm tấn công Lớp Type VII thuộc phân lớp Type VIIC được Hải quân Đức Quốc Xã chế tạo trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nhập biên chế năm 1943, nó đã thực hiện được ba chuyến tuần tra và đánh chìm được một tàu chiến tải trọng 1.300 tấn. Khi lực lượng Đồng Minh giải phóng miền Nam nước Pháp, U-967 bị đánh đắm tại Toulon vào ngày 19 tháng 8, 1944 nhằm tránh để bị lọt vào tay lực lượng Đồng Minh.

Thiết kế và chế tạo

Thiết kế

Sơ đồ các mặt cắt một tàu ngầm Type VIIC

Phân lớp VIIC của Tàu ngầm Type VII là một phiên bản VIIB được kéo dài thêm. Chúng có trọng lượng choán nước 769 t (757 tấn Anh) khi nổi và 871 t (857 tấn Anh) khi lặn).[4] Con tàu có chiều dài chung 67,10 m (220 ft 2 in), lớp vỏ trong chịu áp lực dài 50,50 m (165 ft 8 in), mạn tàu rộng 6,20 m (20 ft 4 in), chiều cao 9,60 m (31 ft 6 in) và mớn nước 4,74 m (15 ft 7 in).[4]

Chúng trang bị hai động cơ diesel Germaniawerft F46 siêu tăng áp 6-xy lanh 4 thì, tổng công suất 2.800–3.200 PS (2.100–2.400 kW; 2.800–3.200 bhp), dẫn động hai trục chân vịt đường kính 1,23 m (4,0 ft), cho phép đạt tốc độ tối đa 17,7 kn (32,8 km/h), và tầm hoạt động tối đa 8.500 nmi (15.700 km) khi đi tốc độ đường trường 10 kn (19 km/h). Khi đi ngầm dưới nước, chúng sử dụng hai động cơ/máy phát điện Garbe, Lahmeyer & Co. RP 137/c tổng công suất 750 PS (550 kW; 740 shp). Tốc độ tối đa khi lặn là 7,6 kn (14,1 km/h), và tầm hoạt động 80 nmi (150 km) ở tốc độ 4 kn (7,4 km/h). Con tàu có khả năng lặn sâu đến 230 m (750 ft).[4]

Vũ khí trang bị có năm ống phóng ngư lôi 53,3 cm (21 in), bao gồm bốn ống trước mũi và một ống phía đuôi, và mang theo tổng cộng 14 quả ngư lôi, hoặc tối đa 22 quả thủy lôi TMA, hoặc 33 quả TMB. Tàu ngầm Type VIIC bố trí một hải pháo 8,8 cm SK C/35 cùng một pháo phòng không 2 cm (0,79 in) trên boong tàu. Thủy thủ đoàn bao gồm 4 sĩ quan và 40-56 thủy thủ.[4]

Chế tạo

U-967 được đặt hàng vào ngày 5 tháng 6, 1941,[1] và được đặt lườn tại xưởng tàu của hãng Blohm & Voss ở Hamburg vào ngày 16 tháng 5, 1942.[1] Nó được hạ thủy vào ngày 4 tháng 2, 1943,[1] và nhập biên chế cùng Hải quân Đức Quốc Xã vào ngày 11 tháng 3, 1943[1] dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Trung úy Hải quân Herbert Loeder.[1]

Lịch sử hoạt động

Sau khi hoàn tất việc huấn luyện trong thành phần Chi hạm đội U-boat 5, U-967 được điều sang Chi hạm đội U-boat 6 từ ngày 1 tháng 10, 1943 để hoạt động trên tuyến đầu.[1] Nó lại được điều sang Chi hạm đội U-boat 29 từ ngày 1 tháng 3, 1944 để hoạt động tại khu vực Địa Trung Hải.[1]

Chuyến tuần tra thứ nhất

Vào đầu tháng 10, 1943, U-967 di chuyển từ cảng Kiel, Đức đến cảng Bergen, Na Uy,[3] rồi xuất phát từ đây vào ngày 5 tháng 11 cho chuyến tuần tra đầu tiên trong chiến tranh. Nó đã băng qua khe GI-UK giữa Iceland và quần đảo Faroe để vòng qua quần đảo Anh, và hoạt động tại khu vực Trung tâm Bắc Đại Tây Dương cho đến tận phía Đông Newfoundland, Canada. Trong chặng quay trở về vào ngày 21 tháng 11, nó đụng độ với một máy bay ném bom B-24 Liberator thuộc Liên đội 53 Không quân Hoàng gia Anh đang hộ tống cho Đoàn tàu SL-139. Khi gần đến căn cứ bên bờ Đại Tây Dương của Pháp, nó lại bị một máy bay đối phương tấn công trong vịnh Biscay, nhưng trong cả hai lần đều đã thoát được mà không bị hư hại. Chiếc U-boat về đến cảng St. Nazaire vào ngày 1 tháng 12.[5]

Chuyến tuần tra thứ hai

Được điều động sang khu vực Địa Trung Hải, U-967 rời cảng St. Nazaire vào ngày 20 tháng 1, 1944 cho chuyến tuần tra thứ hai, và đã thành công khi vượt qua eo biển Gibraltar được lực lượng Đồng Minh canh phòng nghiêm ngặt vào ngày 12 tháng 2. Nó kết thúc chuyến tuần tra tại cảng Toulon ở miền Nam nước Pháp vào ngày 23 tháng 2.[6]

Chuyến tuần tra thứ ba

U-967 khởi hành từ Toulon vào ngày 11 tháng 4 cho chuyến tuần tra thứ ba, cũng là chuyến cuối cùng, để hoạt động tại khu vực Tây Địa Trung Hải dọc theo bờ biển Bắc Phi.[7]Tại đây vào ngày 5 tháng 5, nó phóng ngư lôi tấn công Đoàn tàu GUS-38, đánh chìm được chiếc tàu hộ tống khu trục USS Fechteler của Hải quân Hoa Kỳ ở vị trí khoảng 120 nmi (220 km) về phía Tây Bắc Oran, Algérie.[8] U-967 quay trở về Toulon vào ngày 17 tháng 5.[3]

Bị đánh đắm

U-967 bị hư hại nặng trong các đợt không kích của máy bay ném bom thuộc Không lực 15 Không lực Lục quân Hoa Kỳ xuống Toulon vào các ngày 5 tháng 7, 11 tháng 76 tháng 8, khiến hai thủy thủ tử trận.[1] Sau khi lực lượng Đồng Minh tiến hành Chiến dịch Dragoon đổ bộ lên miền Nam nước Pháp, căn cứ Toulon có khả năng thất thủ, và chiếc tàu ngầm không có khả năng rút lui trở ra Đại Tây Dương. Vì vậy, bị đánh đắm tại cảng Toulon tại tọa độ 43°7′B 5°55′Đ / 43,117°B 5,917°Đ / 43.117; 5.917 vào ngày 19 tháng 8, 1944, nhằm tránh để bị lọt vào tay lực lượng Đồng Minh.[1]

"Bầy sói" tham gia

U-967 từng tham gia sáu bầy sói:

  • Siegfried (25 - 27 tháng 10, 1943)
  • Siegfried 1 (27 - 30 tháng 10, 1943)
  • Körner (30 tháng 10 - 2 tháng 11, 1943)
  • Tirpitz 2 (2 - 8 tháng 11, 1943)
  • Eisenhart 4 (9 - 15 tháng 11, 1943)
  • Schill 3 (18 - 22 tháng 11, 1943)

Tóm tắt chiến công

U-967 đã đánh chìm được một tàu chiến tổng tải trọng 1.300 tấn:

NgàyTên tàuQuốc tịchTải trọng[Ghi chú 2]Số phận[9]
5 tháng 5, 1944USS Fechteler Hải quân Hoa Kỳ1.300Bị đánh chìm

Xem thêm

Tham khảo

Ghi chú

  1. Heinz-Eugen Eberbach là con trai Trung tướng Thiết giáp Heinrich Eberbach
  2. Tàu buôn theo tấn đăng ký toàn phần. Tàu quân sự theo trọng lượng choán nước.

Chú thích

  1. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 Helgason, Guðmundur. "The Type VIIC U-boat U-967". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2025.
  2. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 Helgason, Guðmundur. "Type VIIC". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2025.
  3. 1 2 3 Helgason, Guðmundur. "War Patrols by German U-boat U-967". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2025.
  4. 1 2 3 4 Gröner, Jung & Maass 1991, tr. 43–46.
  5. Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-967 (first patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2025.
  6. Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-967 (second patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2025.
  7. Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-967 (third patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2025.
  8. Helgason, Guðmundur. "USS Fechteler (DE 157) – American Destroyer escort". Ships hit by U-boats - uboat.net. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2025.
  9. Helgason, Guðmundur. "Ships hit by U-967". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2025.

Thư mục

  • Busch, Rainer; Röll, Hans-Joachim (1999). German U-boat commanders of World War II : a biographical dictionary. Brooks, Geoffrey biên dịch. London, Annapolis, Maryland: Greenhill Books, Naval Institute Press. ISBN 1-55750-186-6.
  • Busch, Rainer; Röll, Hans-Joachim (1999). Deutsche U-Boot-Verluste von September 1939 bis Mai 1945 [German U-boat losses from September 1939 to May 1945]. Der U-Boot-Krieg (bằng tiếng Đức). Quyển IV. Hamburg, Berlin, Bonn: Mittler. ISBN 3-8132-0514-2.
  • Gröner, Erich; Jung, Dieter; Maass, Martin (1991). U-boats and Mine Warfare Vessels. German Warships 1815–1945. Quyển 2. Thomas, Keith; Magowan, Rachel biên dịch. London: Conway Maritime Press. ISBN 0-85177-593-4.
  • Neistlé, Axel (2014). German U-Boat Losses during World War II: Details of Destruction (ấn bản thứ 2). Havertown: Frontline Books. ISBN 978-1848322103.
  • Sharpe, Peter (1998). U-Boat Fact File: Detailed Service Histories of the Submarines Operated by the Kriegsmarine 1935-1945. Leicester: Midland Publishing. ISBN 1-85780-072-9.

Liên kết ngoài