U-778 (tàu ngầm Đức)
Tàu ngầm U-boat Type VIIC | |
| Lịch sử | |
|---|---|
| Tên gọi | U-778 |
| Đặt hàng | 20 tháng 1, 1941 |
| Xưởng đóng tàu | Kriegsmarinewerft, Wilhelmshaven |
| Số hiệu xưởng đóng tàu | 161 |
| Đặt lườn | 3 tháng 7, 1943 |
| Hạ thủy | 6 tháng 5, 1944 |
| Nhập biên chế | 7 tháng 7, 1944 |
| Tình trạng | |
| Đặc điểm khái quát | |
| Lớp tàu | Tàu ngầm Type VIIC |
| Trọng tải choán nước | |
| Chiều dài | |
| Sườn ngang | |
| Chiều cao | 9,60 m (31 ft 6 in) [2] |
| Mớn nước | 4,74 m (15 ft 7 in) [2] |
| Công suất lắp đặt | |
| Động cơ đẩy |
|
| Tốc độ |
|
| Tầm xa | |
| Độ sâu thử nghiệm |
|
| Thủy thủ đoàn tối đa | 4 sĩ quan, 40-56 thủy thủ |
| Hệ thống cảm biến và xử lý | Gruppenhorchgerät |
| Vũ khí | |
| Thành tích phục vụ[1][3] | |
| Một phần của: |
|
| Mã nhận diện: | M 33 584 |
| Chỉ huy: |
|
| Chiến dịch: |
|
| Chiến thắng: | Không |
U-778 là một tàu ngầm tấn công Lớp Type VII thuộc phân lớp Type VIIC được Hải quân Đức Quốc Xã chế tạo trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nhập biên chế năm 1944, nó chỉ thực hiện được một chuyến tuần tra duy nhất và không đánh chìm được mục tiêu nào. U-778 đã sống sót qua Thế Chiến II, đầu hàng lực lượng Đồng Minh tại Bergen, Na Uy vào ngày 9 tháng 5, 1945, và cuối cùng bị đánh đắm trong khuôn khổ Chiến dịch Deadlight ngoài khơi Bắc Ireland vào ngày 8 tháng 12, 1945.
Thiết kế và chế tạo
Thiết kế

Phân lớp VIIC của Tàu ngầm Type VII là một phiên bản VIIB được kéo dài thêm. Chúng có trọng lượng choán nước 769 t (757 tấn Anh) khi nổi và 871 t (857 tấn Anh) khi lặn).[4] Con tàu có chiều dài chung 67,10 m (220 ft 2 in), lớp vỏ trong chịu áp lực dài 50,50 m (165 ft 8 in), mạn tàu rộng 6,20 m (20 ft 4 in), chiều cao 9,60 m (31 ft 6 in) và mớn nước 4,74 m (15 ft 7 in).[4]
Chúng trang bị hai động cơ diesel Germaniawerft F46 siêu tăng áp 6-xy lanh 4 thì, tổng công suất 2.800–3.200 PS (2.100–2.400 kW; 2.800–3.200 bhp), dẫn động hai trục chân vịt đường kính 1,23 m (4,0 ft), cho phép đạt tốc độ tối đa 17,7 kn (32,8 km/h), và tầm hoạt động tối đa 8.500 nmi (15.700 km) khi đi tốc độ đường trường 10 kn (19 km/h). Khi đi ngầm dưới nước, chúng sử dụng hai động cơ/máy phát điện Garbe, Lahmeyer & Co. RP 137/c tổng công suất 750 PS (550 kW; 740 shp). Tốc độ tối đa khi lặn là 7,6 kn (14,1 km/h), và tầm hoạt động 80 nmi (150 km) ở tốc độ 4 kn (7,4 km/h). Con tàu có khả năng lặn sâu đến 230 m (750 ft).[4]
Vũ khí trang bị có năm ống phóng ngư lôi 53,3 cm (21 in), bao gồm bốn ống trước mũi và một ống phía đuôi, và mang theo tổng cộng 14 quả ngư lôi, hoặc tối đa 22 quả thủy lôi TMA, hoặc 33 quả TMB. Tàu ngầm Type VIIC bố trí một hải pháo 8,8 cm SK C/35 cùng một pháo phòng không 2 cm (0,79 in) trên boong tàu. Thủy thủ đoàn bao gồm 4 sĩ quan và 40-56 thủy thủ.[4]
Chế tạo
U-778 được đặt hàng vào ngày 20 tháng 1, 1941,[1] và được đặt lườn tại xưởng tàu Kriegsmarinewerft ở Wilhelmshaven vào ngày 3 tháng 7, 1943.[1] Nó được hạ thủy vào ngày 6 tháng 5, 1944,[1] và nhập biên chế cùng Hải quân Đức Quốc Xã vào ngày 7 tháng 7, 1944[1] dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Trung úy Hải quân Ralf Jürs.[1]
Lịch sử hoạt động
Sau khi hoàn tất việc huấn luyện trong thành phần Chi hạm đội U-boat 31, U-778 được điều sang Chi hạm đội U-boat 11 từ ngày 1 tháng 3, 1945 để hoạt động trên tuyến đầu cho đến khi xung đột kết thúc.[1]
Vào cuối tháng 2, 1945, U-778 di chuyển từ cảng Kiel, Đức đến cảng Horten, Na Uy,[3] rồi xuất phát từ đây vào ngày 4 tháng 3 cho chuyến tuần tra duy nhất trong chiến tranh. Nó đã hoạt động tại các vùng biển Bắc Hải và Na Uy, trước khi kết thúc chuyến tuần tra và quay trở về cảng Bergen, Na Uy vào ngày 26 tháng 3.[5]
Khi Thế Chiến II đi vào giai đoạn kết thúc tại Châu Âu, U-778 đầu hàng lực lượng Đồng Minh tại Bergen vào ngày 9 tháng 5, 1945.[1] Con tàu được đưa đến Loch Ryan, Scotland vào ngày 2 tháng 6.[1] và dự định sẽ bị đánh đắm trong khuôn khổ Chiến dịch Deadlight. Tuy nhiên chiếc U-boat đã bị đắm trên đường kéo đi ở vị trí ngoài khơi Bắc Ireland vào ngày 4 tháng 12, 1945, tại tọa độ 55°32′B 07°07′T / 55,533°B 7,117°T.[1]
Khám phá xác tàu đắm
Vào năm 2001, xác tàu đắm của U-778 được nhà khảo cổ đại dương Innes McCartney tìm thấy ở vị trí khoảng 16 nmi (30 km) về phía Đông Bắc Malin Head, Bắc Ireland, ở độ sâu 70 m (230 ft).[1]
Hội đồng thành phố Derry công bố vào năm 2007 một kế hoạch trục vớt con tàu để trưng bày tại một viện bảo tàng hàng hải mới.[6] Không giống như nhiều tàu U-boat khác bị loại bỏ trong Chiến dịch Deadlight, chủ yếu như những mục tiêu thực hành và bị phá hủy bởi đạn pháo, ngư lôi, rocket hay bom, xác tàu đắm của U-778 hầu như nguyên vẹn và nằm ở độ sâu tương đối nông. Tuy nhiên đến tháng 9, 2009, kế hoạch trục vớt bị hủy bỏ do hội đồng thành phố Derry gặp phải khó khăn tài chính.[7]
Xem thêm
Tham khảo
Chú thích
- 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 Helgason, Guðmundur. "The Type VIIB U-boat U-778". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2025.
- 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 Helgason, Guðmundur. "Type VIIC". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2025.
- 1 2 Helgason, Guðmundur. "War Patrols by German U-boat U-778". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2025.
- 1 2 3 4 Gröner, Jung & Maass 1991, tr. 43–46.
- ↑ Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-778 (first patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2025.
- ↑ Bowcott, Owen (ngày 20 tháng 8 năm 2007). "Raise the U-boat: council plans to put Nazi sub in maritime museum". The Guardian.
- ↑ "Costs sink plan to raise U-boat". BBC. ngày 12 tháng 11 năm 2009. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2009.
Thư mục
- Busch, Rainer; Röll, Hans-Joachim (1999). German U-boat commanders of World War II : a biographical dictionary. Brooks, Geoffrey biên dịch. London, Annapolis, Maryland: Greenhill Books, Naval Institute Press. ISBN 1-55750-186-6.
- Busch, Rainer; Röll, Hans-Joachim (1999). Deutsche U-Boot-Verluste von September 1939 bis Mai 1945 [German U-boat losses from September 1939 to May 1945]. Der U-Boot-Krieg (bằng tiếng Đức). Quyển IV. Hamburg, Berlin, Bonn: Mittler. ISBN 3-8132-0514-2.
- Gröner, Erich; Jung, Dieter; Maass, Martin (1991). U-boats and Mine Warfare Vessels. German Warships 1815–1945. Quyển 2. Thomas, Keith; Magowan, Rachel biên dịch. London: Conway Maritime Press. ISBN 0-85177-593-4.
- Kemp, Paul (1999). U-Boats Destroyed - German Submarine Losses in the World Wars. W & N. ISBN 978-1854095152.
- Neistlé, Axel (2014). German U-Boat Losses during World War II: Details of Destruction (ấn bản thứ 2). Havertown: Frontline Books. ISBN 978-1848322103.
- Sharpe, Peter (1998). U-Boat Fact File: Detailed Service Histories of the Submarines Operated by the Kriegsmarine 1935-1945. Leicester: Midland Publishing. ISBN 1-85780-072-9.
Liên kết ngoài
- Helgason, Guðmundur. "The Type VIIC boat U-778". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2025.