Bước tới nội dung

U-747 (tàu ngầm Đức)

Tàu ngầm U-boat Type VIIC
Lịch sử
Đức Quốc Xã
Tên gọiU-747
Đặt hàng25 tháng 8, 1941
Xưởng đóng tàuSchichau-Werke, Danzig
Số hiệu xưởng đóng tàu1557
Đặt lườn19 tháng 8, 1942
Hạ thủy13 tháng 5, 1943
Nhập biên chế17 tháng 7, 1943
Tình trạngBị đánh đắm trong Chiến dịch Regenbogen tại Finkenwerder, Hamburg, 5 tháng 5, 1945[1]
Đặc điểm khái quát
Lớp tàuTàu ngầm Type VIIC
Trọng tải choán nước
Chiều dài
  • 67,10 m (220 ft 2 in) (chung) [2]
  • 50,50 m (165 ft 8 in) (lườn áp lực) [2]
Sườn ngang
  • 6,20 m (20 ft 4 in) (chung) [2]
  • 4,70 m (15 ft 5 in) (lườn áp lực) [2]
Chiều cao9,60 m (31 ft 6 in) [2]
Mớn nước4,74 m (15 ft 7 in) [2]
Công suất lắp đặt
  • 2.800–3.200 PS (2.100–2.400 kW; 2.800–3.200 shp) (diesel) [2]
  • 750 PS (550 kW; 740 shp) (điện) [2]
Động cơ đẩy
Tốc độ
Tầm xa
  • 8.500 hải lý (15.700 km; 9.800 mi) ở tốc độ 10 hải lý trên giờ (19 km/h; 12 mph) (nổi) [2]
  • 80 hải lý (150 km; 92 mi) ở tốc độ 4 hải lý trên giờ (7,4 km/h; 4,6 mph) (lặn) [2]
Độ sâu thử nghiệm
  • 230 m (750 ft) [2]
  • 250–295 m (820–968 ft) (độ sâu ép vỡ tính toán)
Thủy thủ đoàn tối đa4 sĩ quan, 40-56 thủy thủ
Hệ thống cảm biến và xử lýGruppenhorchgerät
Vũ khí
  • 5 × ống phóng ngư lôi 53,3 cm (21 in) [2]
    • (4 × trước mũi, 1 × phía đuôi)
    • 14 × ngư lôi hoặc
    • 26 × mìn TMA hoặc
    • 39 × mìn TMB
  • 1 × Hải pháo 8,8 cm SK C/35, với 220 quả đạn [2]
  • 2 × pháo phòng không 2 cm (0,79 in) C/30 [2]
Thành tích phục vụ[1]
Một phần của:
  • Chi hạm đội U-boat 8
  • 17 tháng 7 – 8 tháng 9, 1943
  • Chi hạm đội U-boat 24
  • 5 tháng 10, 1943 – 1 tháng 4, 1945
  • Chi hạm đội U-boat 31
  • 1 – 9 tháng 4, 1945
Mã nhận diện:M 55 433
Chỉ huy:
  • Trung úy Roberto Rigoli
  • 17 tháng 7 – 8 tháng 9, 1943
  • Trung úy Erich Jewinski
  • 5 tháng 10, 1943 – tháng 5, 1944
  • Trung úy Günter Zahnow
  • tháng 5, 1944 – 9 tháng 4, 1945
Chiến dịch:Không
Chiến thắng:Không

U-747 là một tàu ngầm tấn công Lớp Type VII thuộc phân lớp Type VIIC được Hải quân Đức Quốc Xã chế tạo trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nguyên nhập biên chế cùng Hải quân Ý như là chiếc S 3 vào tháng 7, 1943, nó bị Hải quân Đức chiếm sau khi Ý đầu hàng. Được đổi tên thành U-747, nó chỉ được sử dụng vào việc huấn luyện tại khu vực biển Baltic cho đến cuối chiến tranh. Bị hư hại nặng do không kích, nó bị đánh đắm tại Finkenwerder, Hamburg vào ngày 5 tháng 5, 1945, trong khuôn khổ Chiến dịch Regenbogen nhằm tránh bị lọt vào tay lực lượng Đồng Minh. Xác tàu được trục vớt và tháo dỡ sau chiến tranh.

Thiết kế và chế tạo

Thiết kế

Sơ đồ các mặt cắt một tàu ngầm Type VIIC

Phân lớp VIIC của Tàu ngầm Type VII là một phiên bản VIIB được kéo dài thêm. Chúng có trọng lượng choán nước 769 t (757 tấn Anh) khi nổi và 871 t (857 tấn Anh) khi lặn).[3] Con tàu có chiều dài chung 67,10 m (220 ft 2 in), lớp vỏ trong chịu áp lực dài 50,50 m (165 ft 8 in), mạn tàu rộng 6,20 m (20 ft 4 in), chiều cao 9,60 m (31 ft 6 in) và mớn nước 4,74 m (15 ft 7 in).[3]

Chúng trang bị hai động cơ diesel Germaniawerft F46 siêu tăng áp 6-xy lanh 4 thì, tổng công suất 2.800–3.200 PS (2.100–2.400 kW; 2.800–3.200 bhp), dẫn động hai trục chân vịt đường kính 1,23 m (4,0 ft), cho phép đạt tốc độ tối đa 17,7 kn (32,8 km/h), và tầm hoạt động tối đa 8.500 nmi (15.700 km) khi đi tốc độ đường trường 10 kn (19 km/h). Khi đi ngầm dưới nước, chúng sử dụng hai động cơ/máy phát điện Garbe, Lahmeyer & Co. RP 137/c tổng công suất 750 PS (550 kW; 740 shp). Tốc độ tối đa khi lặn là 7,6 kn (14,1 km/h), và tầm hoạt động 80 nmi (150 km) ở tốc độ 4 kn (7,4 km/h). Con tàu có khả năng lặn sâu đến 230 m (750 ft).[3]

Vũ khí trang bị có năm ống phóng ngư lôi 53,3 cm (21 in), bao gồm bốn ống trước mũi và một ống phía đuôi, và mang theo tổng cộng 14 quả ngư lôi, hoặc tối đa 22 quả thủy lôi TMA, hoặc 33 quả TMB. Tàu ngầm Type VIIC bố trí một hải pháo 8,8 cm SK C/35 cùng một pháo phòng không 2 cm (0,79 in) trên boong tàu. Thủy thủ đoàn bao gồm 4 sĩ quan và 40-56 thủy thủ.[3]

Chế tạo

U-747 thoạt tiên được đặt hàng vào ngày 25 tháng 8, 1941,[1] nhưng được chuyển cho Hải quân Đế quốc Ý để trao đổi với các tàu ngầm vận tải, và được đặt lườn tại xưởng tàu của hãng Schichau-Werke ở Danzig vào ngày 19 tháng 8, 1942.[1] Nó được hạ thủy vào ngày 13 tháng 5, 1943,[1] và nhập biên chế cùng Hải quân Ý như là chiếc S 3 vào ngày 17 tháng 7, 1943[1] dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Trung úy Hải quân Ý Roberto Rigoli.[1]

Lịch sử hoạt động

S 3 vẫn còn đang trong giai đoạn chạy thử máy và huấn luyện trong thành phần Chi hạm đội U-boat 8 trong biển Baltic, khi Đế quốc Ý ký kết Hiệp ước đình chiến Cassibile vào ngày 3 tháng 9, 1943. Vì vậy Hải quân Đức Quốc Xã đã chiếm hữu chiếc tàu ngầm vào ngày 10 tháng 9, đổi tên thành U-747 và nhập biên chế vào ngày 5 tháng 10.[1] Tuy nhiên con tàu chỉ thuần túy đảm nhiệm vai trò huấn luyện, lần lượt trong thành phần Chi hạm đội U-boat 24 từ ngày 5 tháng 10, 1943, và cuối cùng là Chi hạm đội U-boat 31 từ ngày 1 tháng 4, 1945.[1]

U-747 bị hư hại nặng trong một đợt không kích của máy bay ném bom thuộc Không lực 8 Không lực Lục quân Hoa Kỳ xuống Hamburg vào ngày 9 tháng 4, 1945.[1] Khi cuộc xung đột đi vào giai đoạn kết thúc, con tàu bị đánh đắm tại Finkenwerder, Hamburg, tại tọa độ 53°32′B 09°51′Đ / 53,533°B 9,85°Đ / 53.533; 9.850 vào ngày 5 tháng 5, 1945, trong khuôn khổ Chiến dịch Regenbogen nhằm tránh bị lọt vào tay lực lượng Đồng Minh. Xác tàu được trục vớt và tháo dỡ sau chiến tranh.[1]

Tham khảo

Chú thích

  1. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 Helgason, Guðmundur. "The Type VIIB U-boat U-747". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2025.
  2. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 Helgason, Guðmundur. "Type VIIC". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2025.
  3. 1 2 3 4 Gröner, Jung & Maass 1991, tr. 43–46.

Thư mục

Liên kết ngoài