U-674 (tàu ngầm Đức)
Tàu ngầm U-boat Type VIIC | |
| Lịch sử | |
|---|---|
| Tên gọi | U-674 |
| Đặt hàng | 20 tháng 1, 1941 |
| Xưởng đóng tàu | Howaldtswerke, Hamburg |
| Số hiệu xưởng đóng tàu | 823 |
| Đặt lườn | 7 tháng 4, 1942 |
| Hạ thủy | 8 tháng 5, 1943 |
| Nhập biên chế | 15 tháng 6, 1943 |
| Tình trạng | Bị một máy bay Fairey Swordfish xuất phát từ tàu sân bay hộ tống HMS Fencer đánh chìm ở phía Bắc Tromsø, 2 tháng 5, 1944[1] |
| Đặc điểm khái quát | |
| Lớp tàu | Tàu ngầm Type VIIC |
| Trọng tải choán nước | |
| Chiều dài | |
| Sườn ngang | |
| Chiều cao | 9,60 m (31 ft 6 in) [2] |
| Mớn nước | 4,74 m (15 ft 7 in) [2] |
| Công suất lắp đặt | |
| Động cơ đẩy |
|
| Tốc độ |
|
| Tầm xa | |
| Độ sâu thử nghiệm |
|
| Thủy thủ đoàn tối đa | 4 sĩ quan, 40-56 thủy thủ |
| Hệ thống cảm biến và xử lý | Gruppenhorchgerät |
| Vũ khí | |
| Thành tích phục vụ[1][3] | |
| Một phần của: |
|
| Mã nhận diện: | M 52 506 |
| Chỉ huy: |
|
| Chiến dịch: |
|
| Chiến thắng: | Không |
U-674 là một tàu ngầm tấn công Lớp Type VII thuộc phân lớp Type VIIC được Hải quân Đức Quốc Xã chế tạo trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nhập biên chế năm 1943, nó đã thực hiện được ba chuyến tuần tra và không đánh chìm được mục tiêu nào. Trong chuyến tuần tra cuối cùng, U-674 bị một máy bay ném bom-ngư lôi Fairey Swordfish xuất phát từ tàu sân bay hộ tống HMS Fencer của Hải quân Hoàng gia Anh thả mìn sâu đánh chìm trong biển Na Uy về phía Bắc Tromsø vào ngày 2 tháng 5, 1944.
Thiết kế và chế tạo
Thiết kế

Phân lớp VIIC của Tàu ngầm Type VII là một phiên bản VIIB được kéo dài thêm. Chúng có trọng lượng choán nước 769 t (757 tấn Anh) khi nổi và 871 t (857 tấn Anh) khi lặn).[4] Con tàu có chiều dài chung 67,10 m (220 ft 2 in), lớp vỏ trong chịu áp lực dài 50,50 m (165 ft 8 in), mạn tàu rộng 6,20 m (20 ft 4 in), chiều cao 9,60 m (31 ft 6 in) và mớn nước 4,74 m (15 ft 7 in).[4]
Chúng trang bị hai động cơ diesel Germaniawerft F46 siêu tăng áp 6-xy lanh 4 thì, tổng công suất 2.800–3.200 PS (2.100–2.400 kW; 2.800–3.200 bhp), dẫn động hai trục chân vịt đường kính 1,23 m (4,0 ft), cho phép đạt tốc độ tối đa 17,7 kn (32,8 km/h), và tầm hoạt động tối đa 8.500 nmi (15.700 km) khi đi tốc độ đường trường 10 kn (19 km/h). Khi đi ngầm dưới nước, chúng sử dụng hai động cơ/máy phát điện Garbe, Lahmeyer & Co. RP 137/c tổng công suất 750 PS (550 kW; 740 shp). Tốc độ tối đa khi lặn là 7,6 kn (14,1 km/h), và tầm hoạt động 80 nmi (150 km) ở tốc độ 4 kn (7,4 km/h). Con tàu có khả năng lặn sâu đến 230 m (750 ft).[4]
Vũ khí trang bị có năm ống phóng ngư lôi 53,3 cm (21 in), bao gồm bốn ống trước mũi và một ống phía đuôi, và mang theo tổng cộng 14 quả ngư lôi, hoặc tối đa 22 quả thủy lôi TMA, hoặc 33 quả TMB. Tàu ngầm Type VIIC bố trí một hải pháo 8,8 cm SK C/35 cùng một pháo phòng không 2 cm (0,79 in) trên boong tàu. Thủy thủ đoàn bao gồm 4 sĩ quan và 40-56 thủy thủ.[4]
Chế tạo
U-674 được đặt hàng vào ngày 20 tháng 1, 1941,[1] và được đặt lườn tại xưởng tàu của hãng Howaldtswerke ở Hamburg vào ngày 7 tháng 4, 1942.[1] Nó được hạ thủy vào ngày 8 tháng 5, 1943,[1] và nhập biên chế cùng Hải quân Đức Quốc Xã vào ngày 15 tháng 6, 1943[1] dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Trung úy Hải quân Harald Muhs.[1]
Lịch sử hoạt động
Sau khi hoàn tất việc huấn luyện trong thành phần Chi hạm đội U-boat 5, U-674 được điều sang Chi hạm đội U-boat 11 từ ngày 1 tháng 2, 1944 để hoạt động trên tuyến đầu cho đến khi bị mất.[1]
Chuyến tuần tra thứ nhất
U-674 khởi hành từ cảng Kiel, Đức vào ngày 6 tháng 2, 1944 cho chuyến tuần tra đầu tiên trong chiến tranh. Nó đã tiến ra Bắc Hải để hoạt động trong biển Na Uy và biển Barents, trước khi kết thúc chuyến tuần tra tại cảng Hammerfest, Na Uy vào ngày 29 tháng 2.[5]
Chuyến tuần tra thứ hai
Trong chuyến tuần tra tiếp theo, cùng xuất phát và kết thúc tại Hammerfest và diễn ra từ ngày 4 tháng 3 đến ngày 5 tháng 4, U-674 lại tiếp tục hoạt động trong biển Na Uy và biển Barents.[6]
Chuyến tuần tra thứ ba – Bị mất
Vào đầu tháng 4, U-674 di chuyển từ Hammerfest đến cảng Narvik cùng tại Na Uy,[3] rồi xuất phát từ đây vào ngày 17 tháng 4 cho chuyến tuần tra thứ ba, cũng là chuyến cuối cùng, để hoạt động trong biển Na Uy.[7]
Đến ngày 2 tháng 5, đang khi tìm cách tấn công Đoàn tàu RA-59, chiếc U-boat bị một máy bay ném bom-ngư lôi Fairey Swordfish thuộc Liên đội 842 xuất phát từ tàu sân bay hộ tống HMS Fencer của Hải quân Hoàng gia Anh phát hiện và thả mìn sâu tấn công. U-674 bị đánh chìm trong biển Na Uy về phía Bắc Tromsø, tại tọa độ 70°32′B 4°37′Đ / 70,533°B 4,617°Đ.[1] Toàn bộ 49 thành viên thủy thủ đoàn của U-674 đều đã tử trận.[8][1]
"Bầy sói" tham gia
U-674 từng tham gia năm bầy sói:
- Werwolf (23 - 28 tháng 2, 1944)
- Boreas (4 - 5 tháng 3, 1944)
- Orkan (5 - 10 tháng 3, 1944)
- Hammer (10 tháng 3 - 4 tháng 4, 1944)
- Donner & Keil (20 tháng 4 - 2 tháng 5, 1944)
Xem thêm
Tham khảo
Chú thích
- 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Helgason, Guðmundur. "The Type VIIB U-boat U-674". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2025.
- 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 Helgason, Guðmundur. "Type VIIC". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2025.
- 1 2 Helgason, Guðmundur. "War Patrols by German U-boat U-674". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2025.
- 1 2 3 4 Gröner, Jung & Maass 1991, tr. 43–46.
- ↑ Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-674 (first patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2025.
- ↑ Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-674 (second patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2025.
- ↑ Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-674 (third patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2025.
- ↑ Busch & Röll 1999b, tr. 225.
Thư mục
- Busch, Rainer; Röll, Hans-Joachim (1999). German U-boat commanders of World War II : a biographical dictionary. Brooks, Geoffrey biên dịch. London, Annapolis, Maryland: Greenhill Books, Naval Institute Press. ISBN 1-55750-186-6.
- Busch, Rainer; Röll, Hans-Joachim (1999). Deutsche U-Boot-Verluste von September 1939 bis Mai 1945 [German U-boat losses from September 1939 to May 1945]. Der U-Boot-Krieg (bằng tiếng Đức). Quyển IV. Hamburg, Berlin, Bonn: Mittler. ISBN 3-8132-0514-2.
- Gröner, Erich; Jung, Dieter; Maass, Martin (1991). U-boats and Mine Warfare Vessels. German Warships 1815–1945. Quyển 2. Thomas, Keith; Magowan, Rachel biên dịch. London: Conway Maritime Press. ISBN 0-85177-593-4.
- Kemp, Paul (1999). U-Boats Destroyed - German Submarine Losses in the World Wars. W & N. ISBN 978-1854095152.
- Neistlé, Axel (2014). German U-Boat Losses during World War II: Details of Destruction (ấn bản thứ 2). Havertown: Frontline Books. ISBN 978-1848322103.
- Sharpe, Peter (1998). U-Boat Fact File: Detailed Service Histories of the Submarines Operated by the Kriegsmarine 1935-1945. Leicester: Midland Publishing. ISBN 1-85780-072-9.
Liên kết ngoài
- Helgason, Guðmundur. "The Type VIIC boat U-674". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2025.
- Hofmann, Markus. "U 674". Deutsche U-Boote 1935-1945 - u-boot-archiv.de (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2025.
- Tàu ngầm Type VII
- Tàu ngầm của Hải quân Đức trong Thế Chiến II
- U-boat bị đánh chìm bởi mìn sâu
- U-boat bị máy bay Anh đánh chìm
- Xác tàu đắm trong Thế chiến II trong biển Na Uy
- Sự cố hàng hải năm 1944
- Tàu thủy năm 1943