Bước tới nội dung

U-626 (tàu ngầm Đức)

Tàu ngầm U-boat Type VIIC
Lịch sử
Đức Quốc Xã
Tên gọiU-626
Đặt hàng15 tháng 8, 1940
Xưởng đóng tàuBlohm & Voss, Hamburg
Số hiệu xưởng đóng tàu602
Đặt lườn28 tháng 7, 1941
Hạ thủy15 tháng 4, 1942
Nhập biên chế11 tháng 6, 1942
Tình trạngMất tích trong Bắc Đại Tây Dương từ ngày 14 tháng 12, 1942 [1]
Đặc điểm khái quát
Lớp tàuTàu ngầm Type VIIC
Trọng tải choán nước
Chiều dài
  • 67,10 m (220 ft 2 in) (chung) [2]
  • 50,50 m (165 ft 8 in) (lườn áp lực) [2]
Sườn ngang
  • 6,20 m (20 ft 4 in) (chung) [2]
  • 4,70 m (15 ft 5 in) (lườn áp lực) [2]
Chiều cao9,60 m (31 ft 6 in) [2]
Mớn nước4,74 m (15 ft 7 in) [2]
Công suất lắp đặt
  • 2.800–3.200 PS (2.100–2.400 kW; 2.800–3.200 shp) (diesel) [2]
  • 750 PS (550 kW; 740 shp) (điện) [2]
Động cơ đẩy
Tốc độ
Tầm xa
  • 8.500 hải lý (15.700 km; 9.800 mi) ở tốc độ 10 hải lý trên giờ (19 km/h; 12 mph) (nổi) [2]
  • 80 hải lý (150 km; 92 mi) ở tốc độ 4 hải lý trên giờ (7,4 km/h; 4,6 mph) (lặn) [2]
Độ sâu thử nghiệm
  • 230 m (750 ft) [2]
  • 250–295 m (820–968 ft) (độ sâu ép vỡ tính toán)
Thủy thủ đoàn tối đa4 sĩ quan, 40-56 thủy thủ
Hệ thống cảm biến và xử lýGruppenhorchgerät
Vũ khí
  • 5 × ống phóng ngư lôi 53,3 cm (21 in) [2]
    • (4 × trước mũi, 1 × phía đuôi)
    • 14 × ngư lôi hoặc
    • 26 × mìn TMA hoặc
    • 39 × mìn TMB
  • 1 × Hải pháo 8,8 cm SK C/35, với 220 quả đạn [2]
  • 2 × pháo phòng không 2 cm (0,79 in) C/30 [2]
Thành tích phục vụ[1][3]
Một phần của:
  • Chi hạm đội U-boat 5
  • 11 tháng 6 – 31 tháng 10, 1942
  • Chi hạm đội U-boat 6
  • 1 tháng 11 – 14 tháng 12, 1942
Mã nhận diện:M 07 089
Chỉ huy:
  • Thiếu úy Hans-Botho Bade
  • 11 tháng 6, – 14 tháng 12, 1942
Chiến dịch:
  • 1 chuyến tuần tra:
  • 8 – 14 tháng 12, 1942
Chiến thắng:Không

U-626 là một tàu ngầm tấn công Lớp Type VII thuộc phân lớp Type VIIC được Hải quân Đức Quốc Xã chế tạo trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nhập biên chế năm 1942, nó chỉ thực hiện được một chuyến tuần tra duy nhất và không đánh chìm được mục tiêu nào, trước khi mất tích trong Bắc Đại Tây Dương từ ngày 14 tháng 12, 1942 mà không rõ nguyên nhân.

Thiết kế và chế tạo

Thiết kế

Sơ đồ các mặt cắt một tàu ngầm Type VIIC

Phân lớp VIIC của Tàu ngầm Type VII là một phiên bản VIIB được kéo dài thêm. Chúng có trọng lượng choán nước 769 t (757 tấn Anh) khi nổi và 871 t (857 tấn Anh) khi lặn).[4] Con tàu có chiều dài chung 67,10 m (220 ft 2 in), lớp vỏ trong chịu áp lực dài 50,50 m (165 ft 8 in), mạn tàu rộng 6,20 m (20 ft 4 in), chiều cao 9,60 m (31 ft 6 in) và mớn nước 4,74 m (15 ft 7 in).[4]

Chúng trang bị hai động cơ diesel Germaniawerft F46 siêu tăng áp 6-xy lanh 4 thì, tổng công suất 2.800–3.200 PS (2.100–2.400 kW; 2.800–3.200 bhp), dẫn động hai trục chân vịt đường kính 1,23 m (4,0 ft), cho phép đạt tốc độ tối đa 17,7 kn (32,8 km/h), và tầm hoạt động tối đa 8.500 nmi (15.700 km) khi đi tốc độ đường trường 10 kn (19 km/h). Khi đi ngầm dưới nước, chúng sử dụng hai động cơ/máy phát điện Garbe, Lahmeyer & Co. RP 137/c tổng công suất 750 PS (550 kW; 740 shp). Tốc độ tối đa khi lặn là 7,6 kn (14,1 km/h), và tầm hoạt động 80 nmi (150 km) ở tốc độ 4 kn (7,4 km/h). Con tàu có khả năng lặn sâu đến 230 m (750 ft).[4]

Vũ khí trang bị có năm ống phóng ngư lôi 53,3 cm (21 in), bao gồm bốn ống trước mũi và một ống phía đuôi, và mang theo tổng cộng 14 quả ngư lôi, hoặc tối đa 22 quả thủy lôi TMA, hoặc 33 quả TMB. Tàu ngầm Type VIIC bố trí một hải pháo 8,8 cm SK C/35 cùng một pháo phòng không 2 cm (0,79 in) trên boong tàu. Thủy thủ đoàn bao gồm 4 sĩ quan và 40-56 thủy thủ.[4]

Chế tạo

U-626 được đặt hàng vào ngày 15 tháng 8, 1940,[1] và được đặt lườn tại xưởng tàu của hãng Blohm & Voss ở Hamburg vào ngày 28 tháng 7, 1941.[1] Nó được hạ thủy vào ngày 15 tháng 4, 1942,[1] và nhập biên chế cùng Hải quân Đức Quốc Xã vào ngày 11 tháng 6, 1942[1] dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Thiếu úy Hải quân Hans-Botho Bade.[1]

Lịch sử hoạt động

U-626 vẫn đang trong giai đoạn chạy thử máy và huấn luyện trong thành phần Chi hạm đội U-boat 5 trong biển Baltic, khi nó gặp tai nạn va chạm làm đắm tàu ngầm U-222. Sự kiện xảy ra vào ngày 2 tháng 9 ở vị trí về phía Tây Pillau, Đông Phổ (nay là Baltiysk thuộc tỉnh Kaliningrad, Liên bang Nga), tại tọa độ 54°25′B 19°30′Đ / 54,417°B 19,5°Đ / 54.417; 19.500. 42 người trong số thành viên thủy thủ đoàn của U-222 đã thiệt mạng trong tai nạn, chỉ có ba người sống sót được cứu vớt.[5]

Sau khi hoàn tất việc huấn luyện, U-626 được điều sang Chi hạm đội U-boat 6 từ ngày 1 tháng 11, 1942 để hoạt động trên tuyến đầu cho đến khi bị mất.[1] Vào cuối tháng 11, chiếc tàu ngầm di chuyển từ cảng Kiel, Đức đến cảng Bergen, Na Uy,[3] rồi khởi hành từ đây vào ngày 8 tháng 12 cho chuyến tuần tra duy nhất trong chiến tranh. Con tàu băng qua khe GI-UK giữa Iceland và quần đảo Faroe để vòng qua quần đảo Anh và hoạt động tại khu vực Trung tâm Bắc Đại Tây Dương.[6] Nó báo cáo về căn cứ qua vô tuyến lần sau cùng vào ngày 14 tháng 12, tại tọa độ 58°40′B 20°00′T / 58,667°B 20°T / 58.667; -20.000, và sau đó hoàn toàn mất liên lạc. U-626 được cho là đã mất với tổn thất toàn bộ 47 thành viên thủy thủ đoàn trên tàu.[1]

Trước đây có nguồn cho rằng U-626 bị đánh chìm trong Bắc Đại Tây Dương vào ngày 15 tháng 12 bởi mìn sâu thả từ tàu cutter USCGC Ingham thuộc lực lượng Tuần duyên Hoa Kỳ. Tuy nhiên sự kiện này xảy ra tại địa điểm cách vị trí của U-626 đến 200 nmi (370 km), và không có chứng cứ rõ ràng nào xác nhận mục tiêu bị tấn công là một tàu ngầm.[1]

Xem thêm

Tham khảo

Chú thích

  1. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Helgason, Guðmundur. "The Type VIIC U-boat U-626". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2025.
  2. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 Helgason, Guðmundur. "Type VIIC". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2025.
  3. 1 2 Helgason, Guðmundur. "War Patrols by German U-boat U-626". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2025.
  4. 1 2 3 4 Gröner, Jung & Maass 1991, tr. 43–46.
  5. Helgason, Guðmundur. "The Type VIIB U-boat U-222". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2025.
  6. Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-626 (first patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2025.

Thư mục

  • Busch, Rainer; Röll, Hans-Joachim (1999). German U-boat commanders of World War II : a biographical dictionary. Brooks, Geoffrey biên dịch. London, Annapolis, Maryland: Greenhill Books, Naval Institute Press. ISBN 1-55750-186-6.
  • Busch, Rainer; Röll, Hans-Joachim (1999). Deutsche U-Boot-Verluste von September 1939 bis Mai 1945 [German U-boat losses from September 1939 to May 1945]. Der U-Boot-Krieg (bằng tiếng Đức). Quyển IV. Hamburg, Berlin, Bonn: Mittler. ISBN 3-8132-0514-2.
  • Gröner, Erich; Jung, Dieter; Maass, Martin (1991). U-boats and Mine Warfare Vessels. German Warships 1815–1945. Quyển 2. Thomas, Keith; Magowan, Rachel biên dịch. London: Conway Maritime Press. ISBN 0-85177-593-4.
  • Kemp, Paul (1997). U-Boats Destroyed - German Submarine Losses in the World Wars. Arms & Armour. ISBN 1-85409-515-3.
  • Neistlé, Axel (2014). German U-Boat Losses during World War II: Details of Destruction (ấn bản thứ 2). Havertown: Frontline Books. ISBN 978-1848322103.
  • Sharpe, Peter (1998). U-Boat Fact File: Detailed Service Histories of the Submarines Operated by the Kriegsmarine 1935-1945. Leicester: Midland Publishing. ISBN 1-85780-072-9.

Liên kết ngoài