U-603 (tàu ngầm Đức)
Một tàu ngầm có thể là U-603 đang bị máy bay từ tàu sân bay Bogue tấn công, ngày 4 tháng 6 năm 1943. | |
| Lịch sử | |
|---|---|
| Tên gọi | U-603 |
| Đặt hàng | 22 tháng 5, 1940 |
| Xưởng đóng tàu | Blohm & Voss, Hamburg |
| Số hiệu xưởng đóng tàu | 579 |
| Đặt lườn | 27 tháng 2, 1941 |
| Hạ thủy | 16 tháng 11, 1941 |
| Nhập biên chế | 2 tháng 1, 1942 |
| Tình trạng | Mất tích trong Đại Tây Dương từ ngày 19 tháng 2, 1944 [1] |
| Đặc điểm khái quát | |
| Lớp tàu | Tàu ngầm Type VIIC |
| Trọng tải choán nước | |
| Chiều dài | |
| Sườn ngang | |
| Chiều cao | 9,60 m (31 ft 6 in) [2] |
| Mớn nước | 4,74 m (15 ft 7 in) [2] |
| Công suất lắp đặt | |
| Động cơ đẩy |
|
| Tốc độ |
|
| Tầm xa | |
| Độ sâu thử nghiệm |
|
| Thủy thủ đoàn tối đa | 4 sĩ quan, 40-56 thủy thủ |
| Hệ thống cảm biến và xử lý | Gruppenhorchgerät |
| Vũ khí | |
| Thành tích phục vụ[1][3] | |
| Một phần của: |
|
| Mã nhận diện: | M 47 142 |
| Chỉ huy: |
|
| Chiến dịch: |
|
| Chiến thắng: | 4 tàu buôn bị đánh chìm (22.406 GRT) |
U-603 là một tàu ngầm tấn công Lớp Type VII thuộc phân lớp Type VIIC được Hải quân Đức Quốc Xã chế tạo trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nhập biên chế năm 1942, nó đã thực hiện được năm chuyến tuần tra và đánh chìm được bốn tàu buôn với tổng tải trọng 22.406 GRT U-603 bị mất tích trong chuyến tuần tra cuối cùng trong Đại Tây Dương từ ngày 19 tháng 2, 1944.
Thiết kế và chế tạo
Thiết kế

Phân lớp VIIC của Tàu ngầm Type VII là một phiên bản VIIB được kéo dài thêm. Chúng có trọng lượng choán nước 769 t (757 tấn Anh) khi nổi và 871 t (857 tấn Anh) khi lặn).[4] Con tàu có chiều dài chung 67,10 m (220 ft 2 in), lớp vỏ trong chịu áp lực dài 50,50 m (165 ft 8 in), mạn tàu rộng 6,20 m (20 ft 4 in), chiều cao 9,60 m (31 ft 6 in) và mớn nước 4,74 m (15 ft 7 in).[4]
Chúng trang bị hai động cơ diesel Germaniawerft F46 siêu tăng áp 6-xy lanh 4 thì, tổng công suất 2.800–3.200 PS (2.100–2.400 kW; 2.800–3.200 bhp), dẫn động hai trục chân vịt đường kính 1,23 m (4,0 ft), cho phép đạt tốc độ tối đa 17,7 kn (32,8 km/h), và tầm hoạt động tối đa 8.500 nmi (15.700 km) khi đi tốc độ đường trường 10 kn (19 km/h). Khi đi ngầm dưới nước, chúng sử dụng hai động cơ/máy phát điện Garbe, Lahmeyer & Co. RP 137/c tổng công suất 750 PS (550 kW; 740 shp). Tốc độ tối đa khi lặn là 7,6 kn (14,1 km/h), và tầm hoạt động 80 nmi (150 km) ở tốc độ 4 kn (7,4 km/h). Con tàu có khả năng lặn sâu đến 230 m (750 ft).[4]
Vũ khí trang bị có năm ống phóng ngư lôi 53,3 cm (21 in), bao gồm bốn ống trước mũi và một ống phía đuôi, và mang theo tổng cộng 14 quả ngư lôi, hoặc tối đa 22 quả thủy lôi TMA, hoặc 33 quả TMB. Tàu ngầm Type VIIC bố trí một hải pháo 8,8 cm SK C/35 cùng một pháo phòng không 2 cm (0,79 in) trên boong tàu. Thủy thủ đoàn bao gồm 4 sĩ quan và 40-56 thủy thủ.[4]
Chế tạo
U-603 được đặt hàng vào ngày 22 tháng 5, 1940,[1] và được đặt lườn tại xưởng tàu của hãng Blohm & Voss ở Hamburg vào ngày 22 tháng 2, 1941.[1] Nó được hạ thủy vào ngày 16 tháng 11, 1941,[1] và nhập biên chế cùng Hải quân Đức Quốc Xã vào ngày 2 tháng 1, 1942[1] dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Đại úy Hải quân Kurt Kölzer.[1]
Lịch sử hoạt động
1942
Sau khi hoàn tất việc huấn luyện trong thành phần Chi hạm đội U-boat 5, U-603 được điều sang Chi hạm đội U-boat 1 từ ngày 1 tháng 12, 1942 để hoạt động trên tuyến đầu cho đến khi bị mất.[1]
Chuyến tuần tra thứ nhất
Vào đầu tháng 11, 1942, U-603 có các chuyến đi ngắn từ cảng Kiel, Đức đến các cảng Kristiansand và Bergen, Na Uy. Nó khởi hành từ Bergen vào ngày 23 tháng 11 cho chuyến tuần tra đầu tiên trong chiến tranh, và đã băng qua khe GI-UK giữa quần đảo Faroe và Iceland để vòng qua quần đảo Anh và hoạt động tại vùng biển Bắc Đại Tây Dương về phía Tây Ireland (Khu vực Tiếp cận phía Tây). Vào ngày 4 tháng 12, nó phát hiện một đoàn tàu vận tải nhưng không thể tấn công vì bị các tàu hộ tống thả mìn sâu ngăn chặn; dù sao U-603 không bị hư hại và đã thông báo tọa độ đoàn tàu đối phương cho các tàu U-boat khác trước khi đi đến căn cứ Brest bên bờ Đại Tây Dương của Pháp đã bị Đức chiếm đóng, đến nơi vào ngày 9 tháng 12.[5]
1943
Chuyến tuần tra thứ hai
U-603 xuất phát từ Brest vào ngày 7 tháng 2, 1943 cho chuyến tuần tra thứ hai, và hoạt động tại vùng biển Trung tâm Bắc Đại Tây Dương.[6] Tại đây vào ngày 21 tháng 2, nó phối hợp cùng tàu ngầm U-322 tấn công Đoàn tàu ON-166. Một quả ngư lôi của U-332 đã đánh trúng đích chiếc tàu chở dầu Na Uy Stigstad 5.964 GRT, trước khi nó đắm do trúng thêm hai quả ngư lôi phóng từ U-603.[7] Chỉ hai ngày sau đó 23 tháng 2, U-603 phóng ngư lôi kết liễu chiếc tàu chở dầu Na Uy Glittre 6.409 GRT cùng thuộc Đoàn tàu ON-166, vốn đã bị hư hại sau khi trúng ngư lôi từ tàu ngầm U-628.[8] Đến ngày 16 tháng 3, nó lại phóng ngư lôi tấn công Đoàn tàu HX-229, và đã đánh chìm thêm chiếc tàu buôn Na Uy Elin K 5.214 GRT.[9] Chiếc tàu ngầm kết thúc chuyến tuần tra và quay trở về cảng Brest vào ngày 26 tháng 3.[3]
Chuyến tuần tra thứ ba
U-603 thực hiện chuyến tuần tra tiếp theo, cùng xuất phát và kết thúc tại Brest và kéo dài từ ngày 5 tháng 5 đến ngày 16 tháng 7, để tiếp tục hoạt động tại khu vực giữa Đại Tây Dương.[10] Dưới quyền chỉ huy của hạm trưởng mới, Trung úy Hải quân Rudolf Baltz, chiếc U-boat đã tấn công Đoàn tàu HX-237 vào ngày 12 tháng 5 và đánh chìm được chiếc tàu buôn Na Uy Brand 4.819 GRT.[11] Trong chặng quay trở về căn cứ, vào ngày 8 tháng 7, U-603 bị một thủy phi cơ PBY Catalina thuộc Liên đội 202 Không quân Hoàng gia Anh tấn công ở vị trí ngoài khơi bờ biển Bồ Đào Nha, nhưng chỉ bị hư hại nhẹ.[1]
Chuyến tuần tra thứ tư
U-603 khởi hành từ Brest vào ngày 9 tháng 9 cho chuyến tuần tra thứ tư để hoạt động trong Đại Tây Dương tại Khu vực Tiếp cận phía Tây.[12] Tại đây vào ngày 13 tháng 10, nó bị một máy bay ném bom-ngư lôi TBF Avenger xuất phát từ tàu sân bay hộ tống USS Card của Hải quân Hoa Kỳ thả một quả ngư lôi dò âm FIDO Mark 24 tấn công. Tuy nhiên chiếc U-boat đã cơ động né tránh được,[1]và quay trở về căn cứ vào ngày 3 tháng 11.[3]
1944
Chuyến tuần tra thứ năm – Mất tích
U-603 khởi hành từ Brest vào ngày 5, 1944 cho chuyến tuần tra thứ năm, cũng là chuyến cuối cùng, để hoạt động tại khu vực Trung tâm Bắc Đại Tây Dương.[13] Nó báo cáo bằng vô tuyến về căn cứ lần cuối cùng lúc 22 giờ 45 phút ngày 18 tháng 2 lúc đang ở tại tọa độ 48°57′B 23°45′T / 48,95°B 23,75°T, khi đang phối hợp cùng bầy sói Hai 1 để tấn công các đoàn tàu ONS-29 và ON-224.[1] U-603 sau đó mất tích mà không rõ nguyên nhân, và được cho là đã mất với tổn thất toàn bộ 51 thành viên thủy thủ đoàn trên tàu.[1]
Trước đây người ta tin rằng U-603 bị đánh chìm do trúng mìn sâu thả từ tàu hộ tống khu trục USS Bronstein của Hải quân Hoa Kỳ tại tọa độ 48°55′B 26°10′T / 48,917°B 26,167°T vào ngày 1 tháng 3. Đợt tấn công này thực ra đã không trúng bất kỳ tàu bè nào.[1]
"Bầy sói" tham gia
U-603 từng tham gia mườii ba bầy sói:
- Ritter (14 – 26 tháng 2, 1943)
- Burggraf (4 – 5 tháng 3, 1943)
- Raubgraf (7 – 20 tháng 3, 1943)
- Oder (17 – 19 tháng 5, 1943)
- Mosel (19 – 24 tháng 5, 1943)
- Trutz (1 – 16 tháng 6, 1943)
- Trutz 2 (16 – 29 tháng 6, 1943)
- Geier 1 (30 tháng 6 – 14 tháng 7, 1943)
- Leuthen (15 – 24 tháng 9, 1943)
- Rossbach (24 tháng 9 – 9 tháng 10, 1943)
- Igel 2 (15 – 17 tháng 2, 1944)
- Hai 1 (17 – 22 tháng 2, 1944)
- Preussen (22 tháng 2 – 1 tháng 3, 1944)
Tóm tắt chiến công
U-603 đã đánh chìm được bốn tàu buôn tổng tải trọng 22.406 GRT:
| Ngày | Tên tàu | Quốc tịch | Tải trọng[Ghi chú 1] | Số phận[14] |
|---|---|---|---|---|
| 21 tháng 2, 1943 | Stigstad | 5.964 | Bị đánh chìm | |
| 23 tháng 2, 1943 | Glittre | 6.409 | Bị đánh chìm | |
| 16 tháng 3, 1943 | Elin K | 5.214 | Bị đánh chìm | |
| 12 tháng 5, 1943 | Brand | 4.819 | Bị đánh chìm |
Xem thêm
Tham khảo
Ghi chú
- ↑ Tàu buôn theo tấn đăng ký toàn phần. Tàu quân sự theo trọng lượng choán nước.
Chú thích
- 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 Helgason, Guðmundur. "The Type VIIC U-boat U-603". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2025.
- 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 Helgason, Guðmundur. "Type VIIC". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2025.
- 1 2 3 Helgason, Guðmundur. "War Patrols by German U-boat U-603". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2025.
- 1 2 3 4 Gröner, Jung & Maass 1991, tr. 43–46.
- ↑ Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-603 (first patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2025.
- ↑ Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-603 (second patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2025.
- ↑ Helgason, Guðmundur. "Stigstad – Norwegian Motor tanker". Ships hit by U-boats – uboat.net. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2025.
- ↑ Helgason, Guðmundur. "Glittre – Norwegian Motor tanker". Ships hit by U-boats – uboat.net. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2025.
- ↑ Helgason, Guðmundur. "Elin K – Norwegian Motor merchant". Ships hit by U-boats – uboat.net. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2025.
- ↑ Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-603 (third patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2025.
- ↑ Helgason, Guðmundur. "Brand – Norwegian Motor merchant". Ships hit by U-boats – uboat.net. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2025.
- ↑ Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-603 (fourth patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2025.
- ↑ Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-603 (fifth patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2025.
- ↑ Helgason, Guðmundur. "Ships hit by U-603". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2025.
Thư mục
- Busch, Rainer; Röll, Hans-Joachim (1999). German U-boat commanders of World War II : a biographical dictionary. Brooks, Geoffrey biên dịch. London, Annapolis, Maryland: Greenhill Books, Naval Institute Press. ISBN 1-55750-186-6.
- Busch, Rainer; Röll, Hans-Joachim (1999). Deutsche U-Boot-Verluste von September 1939 bis Mai 1945 [German U-boat losses from September 1939 to May 1945]. Der U-Boot-Krieg (bằng tiếng Đức). Quyển IV. Hamburg, Berlin, Bonn: Mittler. ISBN 3-8132-0514-2.
- Edwards, Bernard (1996). Dönitz and the Wolf Packs – The U-boats at War. Cassell Military Classics. tr. 129, 155–156, 160, 208. ISBN 0-304-35203-9.
- Gröner, Erich; Jung, Dieter; Maass, Martin (1991). U-boats and Mine Warfare Vessels. German Warships 1815–1945. Quyển 2. Thomas, Keith; Magowan, Rachel biên dịch. London: Conway Maritime Press. ISBN 0-85177-593-4.
- Kemp, Paul (1997). U-Boats Destroyed - German Submarine Losses in the World Wars. Arms & Armour. ISBN 1-85409-515-3.
- Neistlé, Axel (2014). German U-Boat Losses during World War II: Details of Destruction (ấn bản thứ 2). Havertown: Frontline Books. ISBN 978-1848322103.
- Sharpe, Peter (1998). U-Boat Fact File: Detailed Service Histories of the Submarines Operated by the Kriegsmarine 1935-1945. Leicester: Midland Publishing. ISBN 1-85780-072-9.
Liên kết ngoài
- Helgason, Guðmundur. "The Type VIIC boat U-603". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2025.
- Hofmann, Markus. "U 603". Deutsche U-Boote 1935-1945 - u-boot-archiv.de (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2025.
- Tàu ngầm Type VII
- Tàu ngầm của Hải quân Đức trong Thế Chiến II
- U-boat bị mất tích
- Xác tàu đắm trong Thế chiến II trong Đại Tây Dương
- Sự cố hàng hải năm 1944
- Tàu thủy năm 1941