U-616 (tàu ngầm Đức)
Tàu ngầm U-boat Type VIIC | |
| Lịch sử | |
|---|---|
| Tên gọi | U-616 |
| Đặt hàng | 15 tháng 8, 1940 |
| Xưởng đóng tàu | Blohm & Voss, Hamburg |
| Số hiệu xưởng đóng tàu | 592 |
| Đặt lườn | 20 tháng 5, 1941 |
| Hạ thủy | 8 tháng 2, 1942 |
| Nhập biên chế | 2 tháng 4, 1942 |
| Tình trạng | Bị các tàu chiến Hải quân Hoa Kỳ và một máy bay Không quân Hoàng gia Anh đánh chìm trong Địa Trung Hải, 17 tháng 5, 1944 [1] |
| Đặc điểm khái quát | |
| Lớp tàu | Tàu ngầm Type VIIC |
| Trọng tải choán nước | |
| Chiều dài | |
| Sườn ngang | |
| Chiều cao | 9,60 m (31 ft 6 in) [2] |
| Mớn nước | 4,74 m (15 ft 7 in) [2] |
| Công suất lắp đặt | |
| Động cơ đẩy |
|
| Tốc độ |
|
| Tầm xa | |
| Độ sâu thử nghiệm |
|
| Thủy thủ đoàn tối đa | 4 sĩ quan, 40-56 thủy thủ |
| Hệ thống cảm biến và xử lý | Gruppenhorchgerät |
| Vũ khí | |
| Thành tích phục vụ[1][3] | |
| Một phần của: |
|
| Mã nhận diện: | M 45 101 |
| Chỉ huy: |
|
| Chiến dịch: |
|
| Chiến thắng: |
|
U-616 là một tàu ngầm tấn công Lớp Type VII thuộc phân lớp Type VIIC được Hải quân Đức Quốc Xã chế tạo trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nhập biên chế năm 1942, nó đã thực hiện được chín chuyến tuần tra, đánh chìm hai tàu chiến với tổng tải trọng 2.181 tấn, đồng thời gây hư hại cho hai tàu buôn với tổng tải trọng 17.754 GRT. Trong chuyến tuần tra cuối cùng, U-616 bị các tàu chiến Hải quân Hoa Kỳ và một máy bay Không quân Hoàng gia Anh đánh chìm trong Địa Trung Hải vào ngày 17 tháng 5, 1944.
Thiết kế và chế tạo
Thiết kế

Phân lớp VIIC của Tàu ngầm Type VII là một phiên bản VIIB được kéo dài thêm. Chúng có trọng lượng choán nước 769 t (757 tấn Anh) khi nổi và 871 t (857 tấn Anh) khi lặn).[4] Con tàu có chiều dài chung 67,10 m (220 ft 2 in), lớp vỏ trong chịu áp lực dài 50,50 m (165 ft 8 in), mạn tàu rộng 6,20 m (20 ft 4 in), chiều cao 9,60 m (31 ft 6 in) và mớn nước 4,74 m (15 ft 7 in).[4]
Chúng trang bị hai động cơ diesel Germaniawerft F46 siêu tăng áp 6-xy lanh 4 thì, tổng công suất 2.800–3.200 PS (2.100–2.400 kW; 2.800–3.200 bhp), dẫn động hai trục chân vịt đường kính 1,23 m (4,0 ft), cho phép đạt tốc độ tối đa 17,7 kn (32,8 km/h), và tầm hoạt động tối đa 8.500 nmi (15.700 km) khi đi tốc độ đường trường 10 kn (19 km/h). Khi đi ngầm dưới nước, chúng sử dụng hai động cơ/máy phát điện Garbe, Lahmeyer & Co. RP 137/c tổng công suất 750 PS (550 kW; 740 shp). Tốc độ tối đa khi lặn là 7,6 kn (14,1 km/h), và tầm hoạt động 80 nmi (150 km) ở tốc độ 4 kn (7,4 km/h). Con tàu có khả năng lặn sâu đến 230 m (750 ft).[4]
Vũ khí trang bị có năm ống phóng ngư lôi 53,3 cm (21 in), bao gồm bốn ống trước mũi và một ống phía đuôi, và mang theo tổng cộng 14 quả ngư lôi, hoặc tối đa 22 quả thủy lôi TMA, hoặc 33 quả TMB. Tàu ngầm Type VIIC bố trí một hải pháo 8,8 cm SK C/35 cùng một pháo phòng không 2 cm (0,79 in) trên boong tàu. Thủy thủ đoàn bao gồm 4 sĩ quan và 40-56 thủy thủ.[4]
Chế tạo
U-616 được đặt hàng vào ngày 15 tháng 8, 1940,[1] và được đặt lườn tại xưởng tàu của hãng Blohm & Voss ở Hamburg vào ngày 20 tháng 5, 1941.[1] Nó được hạ thủy vào ngày 8 tháng 2, 1942,[1] và nhập biên chế cùng Hải quân Đức Quốc Xã vào ngày 2 tháng 4, 1942[1] dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Trung úy Hải quân Johann Spindlegger.[1]
Lịch sử hoạt động
1943
Sau khi hoàn tất việc huấn luyện trong thành phần Chi hạm đội U-boat 8, U-616 được điều sang Chi hạm đội U-boat 6 từ ngày 1 tháng 1, 1943 để hoạt động trên tuyến đầu, rồi được điều sang Chi hạm đội U-boat 29 từ ngày 1 tháng 6, 1943 để hoạt động tại khu vực Địa Trung Hải cho đến khi bị mất.[1]
Chuyến tuần tra thứ nhất
U-616 khởi hành từ cảng Kiel, Đức vào ngày 6 tháng 2, 1943 cho chuyến tuần tra đầu tiên trong chiến tranh. Nó tiến ra Bắc Hải, rồi băng qua khe GI-UK giữa Iceland và quần đảo Faroe để vòng qua quần đảo Anh và hoạt động tại khu vực Trung tâm Bắc Đại Tây Dương. Chiếc tàu ngầm không đánh chìm được mục tiêu nào, nên kết thúc chuyến tuần tra và đi đến cảng St. Nazaire bên bờ Đại Tây Dương của Pháp đã bị Đức chiếm đóng, đến nơi vào ngày 26 tháng 3.[5]
Chuyến tuần tra thứ hai
U-616 xuất phát từ St. Nazaire vào ngày 19 tháng 4 cho chuyến tuần tra thứ hai với nhiệm vụ chuyển sang hoạt động tại khu vực Địa Trung Hải. Nó thành công trong việc băng qua eo biển Gibraltar được lực lượng Đồng Minh canh phòng nghiêm ngặt vào ngày 5 tháng 5, nhưng đến ngày 13 tháng 5 lại bị các tàu hộ tống cho một đoàn tàu vận tải đối phương thả 64 quả mìn sâu tấn công, nên bị hư hại nặng. Chiếc U-boat kết thúc chuyến tuần tra tại cảng La Spezia, Ý vào ngày 17 tháng 5.[6]
Chuyến tuần tra thứ ba và thứ tư
Chiếc tàu ngầm rời La Spezia vào ngày 28 tháng 7 cho chuyến tuần tra thứ ba, và đã hoạt động dọc bờ biển Bắc Phi ngoài khơi Algérie cho đến ngày 18 tháng 8, khi nó đi đến cảng Toulon, Pháp.[7] Cảng này trở thành căn cứ hoạt động chính của chiếc tàu ngầm cho đến khi bị mất.[3]
Chuyến tuần tra tiếp theo của U-616, cùng xuất phát và kết thúc tại Toulon, diễn ra từ ngày 8 đến ngày 18 tháng 9. Chiếc U-boat đã hoạt động tại khu vực biển Tyrrhenum ngoài khơi Salerno, Ý.[8]
Chuyến tuần tra thứ năm và thứ sáu
U-616 lại khởi hành từ Toulon vào ngày 3 tháng 10 cho chuyến tuần tra thứ năm, và lại hoạt động trong biển Tyrrhenum về phía Tây Nam Salerno.[9] Tại đây vào ngày 9 tháng 10, nó phóng ngư lôi tấn công và đánh chìm tàu khu trục Hoa Kỳ USS Buck (1.570 tấn) ở vị trí ngoài khơi bãi đổ bộ tại Salerno.[10] Chỉ hai ngày sau đó 11 tháng 10, nó tiếp tục phóng ngư lôi đánh chìm chiếc tàu đổ bộ Anh HMS LCT-553 (611 tấn).[11] Chiếc tàu ngầm quay trở về cảng Toulon vào ngày 15 tháng 10.[3]
U-616 tiếp tục hoạt động trong vùng biển Tyrrhenum ngoài khơi Salerno trong chuyến tuần tra tiếp theo, diễn ra từ ngày 20 tháng 11 đến ngày 12 tháng 12.[12]
1944
Chuyến tuần tra thứ bảy và thứ tám
U-616 xuất phát từ Toulon vào ngày 3 tháng 1, 1944 cho chuyến tuần tra thứ bảy, và chuyển sang hoạt động tại vùng biển Bác Phi ngoài khơi Algérie. Nó quay trở về Toulon vào ngày 15 tháng 1.[13]
Trong chuyến tuần tra tiếp theo từ ngày 19 tháng 2 đến ngày 15 tháng 3, chiếc U-boat lại hoạt động trong vùng biển Tyrrhenum về phía Đông Naples, Ý.[14]
Chuyến tuần tra thứ chín – Bị mất
U-616 khởi hành từ cảng Toulon vào ngày 30 tháng 4 cho chuyến tuần tra thứ chín, cũng là chuyến cuối cùng, để lại hoạt động dọc bờ biển Bắc Phi ngoài khơi Algérie.[15] Tại đây vào ngày 14 tháng 5, nó phóng ngư lôi tấn công Đoàn tàu GUS-39, gây hư hại cho chiếc tàu buôn Anh Fort Fidler 7.127 GRT[16] và chiếc tàu chở dầu Anh G. S. Walden 10.627 GRT.[17]
Chỉ ba ngày sau đó 17 tháng 5, ở vị trí về phía Tây Bắc Ténès, Algérie, chiếc tàu ngầm bị các tàu khu trục USS Nields, USS Gleaves, USS Ellyson, USS Macomb, USS Hambleton, USS Rodman và USS Emmons của Hải quân Hoa Kỳ phối hợp cùng một máy bay ném bom Vickers Wellington thuộc Liên đội 36 Không quân Hoàng gia Anh thả mìn sâu đánh chìm tại tọa độ 36°46′B 00°52′Đ / 36,767°B 0,867°Đ.[1] Toàn bộ 53 thành viên thủy thủ đoàn của U-616 đều đã sống sót và bị bắt làm tù binh chiến tranh.[1]
"Bầy sói" tham gia
U-616 từng tham gia ba bầy sói:
- Burggraf (24 tháng 2 – 5 tháng 3, 1943)
- Westmark (6 – 11 tháng 3, 1943)
- Stürmer (11 – 20 tháng 3, 1943)
Tóm tắt chiến công
U-616 đã đánh chìm được hai tàu chiến tổng tải trọng 2.181 tấn, đồng thời gây hư hại cho hai tàu buôn tổng tải trọng 17.754 GRT:
| Ngày | Tên tàu | Quốc tịch | Tải trọng[Ghi chú 1] | Số phận[18] |
|---|---|---|---|---|
| 9 tháng 10, 1943 | USS Buck | 1.570 | Bị đánh chìm | |
| 11 tháng 10, 1943 | HMS LCT-553 | 611 | Bị đánh chìm | |
| 14 tháng 5, 1944 | Fort Fidler | 7.127 | Bị hư hại | |
| 14 tháng 5, 1944 | G. S. Walden | 10.627 | Bị hư hại |
Xem thêm
- Chiến dịch U-boat Địa Trung Hải (Thế Chiến II)
Tham khảo
Ghi chú
- ↑ Tàu buôn theo tấn đăng ký toàn phần. Tàu quân sự theo trọng lượng choán nước.
Chú thích
- 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Helgason, Guðmundur. "The Type VIIC U-boat U-616". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2025.
- 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 Helgason, Guðmundur. "Type VIIC". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2025.
- 1 2 3 Helgason, Guðmundur. "War Patrols by German U-boat U-616". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2025.
- 1 2 3 4 Gröner, Jung & Maass 1991, tr. 43–46.
- ↑ Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-616 (first patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2025.
- ↑ Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-616 (second patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2025.
- ↑ Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-616 (third patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2025.
- ↑ Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-616 (fourth patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2025.
- ↑ Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-616 (fifth patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2025.
- ↑ Helgason, Guðmundur. "USS Buck (DD 420) – American Destroyer". Ships hit by U-boats – uboat.net. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2025.
- ↑ Helgason, Guðmundur. "HMS LCT-553 – British Landing craft". Ships hit by U-boats – uboat.net. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2025.
- ↑ Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-616 (sixth patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2025.
- ↑ Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-616 (seventh patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2025.
- ↑ Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-616 (eighth patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2025.
- ↑ Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-616 (ninth patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2025.
- ↑ Helgason, Guðmundur. "Fort Fidler – British Steam merchant". Ships hit by U-boats – uboat.net. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2025.
- ↑ Helgason, Guðmundur. "G. S. Walden – British Motor tanker". Ships hit by U-boats – uboat.net. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2025.
- ↑ Helgason, Guðmundur. "Ships hit by U-616". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2025.
Thư mục
- Alden, John D. (2004). "Question 32/03: Loss of U-616 and U-960". Warship International. Quyển XLI số 4. tr. 333–335. ISSN 0043-0374.
- Busch, Rainer; Röll, Hans-Joachim (1999). German U-boat commanders of World War II : a biographical dictionary. Brooks, Geoffrey biên dịch. London, Annapolis, Maryland: Greenhill Books, Naval Institute Press. ISBN 1-55750-186-6.
- Busch, Rainer; Röll, Hans-Joachim (1999). Deutsche U-Boot-Verluste von September 1939 bis Mai 1945 [German U-boat losses from September 1939 to May 1945]. Der U-Boot-Krieg (bằng tiếng Đức). Quyển IV. Hamburg, Berlin, Bonn: Mittler. ISBN 3-8132-0514-2.
- Gröner, Erich; Jung, Dieter; Maass, Martin (1991). U-boats and Mine Warfare Vessels. German Warships 1815–1945. Quyển 2. Thomas, Keith; Magowan, Rachel biên dịch. London: Conway Maritime Press. ISBN 0-85177-593-4.
- Kemp, Paul (1997). U-Boats Destroyed - German Submarine Losses in the World Wars. Arms & Armour. ISBN 1-85409-515-3.
- Neistlé, Axel (2014). German U-Boat Losses during World War II: Details of Destruction (ấn bản thứ 2). Havertown: Frontline Books. ISBN 978-1848322103.
- Sharpe, Peter (1998). U-Boat Fact File: Detailed Service Histories of the Submarines Operated by the Kriegsmarine 1935-1945. Leicester: Midland Publishing. ISBN 1-85780-072-9.
Liên kết ngoài
- Helgason, Guðmundur. "The Type VIIC boat U-616". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2025.
- Hofmann, Markus. "U 616". Deutsche U-Boote 1935-1945 - u-boot-archiv.de (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2025.
- Tàu ngầm Type VII
- Tàu ngầm của Hải quân Đức trong Thế Chiến II
- U-boat bị đánh chìm bởi mìn sâu
- U-boat bị tàu chiến Hoa Kỳ đánh chìm
- U-boat bị máy bay Anh đánh chìm
- Xác tàu đắm trong Thế chiến II tại Địa Trung Hải
- Sự cố hàng hải năm 1944
- Tàu thủy năm 1942