Bước tới nội dung

U-753 (tàu ngầm Đức)

Tàu ngầm U-boat Type VIIC
Lịch sử
Đức Quốc Xã
Tên gọiU-753
Đặt hàng9 tháng 10, 1939
Xưởng đóng tàuKriegsmarinewerft, Wilhelmshaven
Số hiệu xưởng đóng tàu136
Đặt lườn3 tháng 1, 1940
Hạ thủy26 tháng 4, 1941
Nhập biên chế18 tháng 6, 1941
Tình trạngBị máy bay và tàu chiến AnhCanada đánh chìm trong Đại Tây Dương, 13 tháng 5, 1943 [1]
Đặc điểm khái quát
Lớp tàuTàu ngầm Type VIIC
Trọng tải choán nước
Chiều dài
  • 67,10 m (220 ft 2 in) (chung) [2]
  • 50,50 m (165 ft 8 in) (lườn áp lực) [2]
Sườn ngang
  • 6,20 m (20 ft 4 in) (chung) [2]
  • 4,70 m (15 ft 5 in) (lườn áp lực) [2]
Chiều cao9,60 m (31 ft 6 in) [2]
Mớn nước4,74 m (15 ft 7 in) [2]
Công suất lắp đặt
  • 2.800–3.200 PS (2.100–2.400 kW; 2.800–3.200 shp) (diesel) [2]
  • 750 PS (550 kW; 740 shp) (điện) [2]
Động cơ đẩy
Tốc độ
Tầm xa
  • 8.500 hải lý (15.700 km; 9.800 mi) ở tốc độ 10 hải lý trên giờ (19 km/h; 12 mph) (nổi) [2]
  • 80 hải lý (150 km; 92 mi) ở tốc độ 4 hải lý trên giờ (7,4 km/h; 4,6 mph) (lặn) [2]
Độ sâu thử nghiệm
  • 230 m (750 ft) [2]
  • 250–295 m (820–968 ft) (độ sâu ép vỡ tính toán)
Thủy thủ đoàn tối đa4 sĩ quan, 40-56 thủy thủ
Hệ thống cảm biến và xử lýGruppenhorchgerät
Vũ khí
  • 5 × ống phóng ngư lôi 53,3 cm (21 in) [2]
    • (4 × trước mũi, 1 × phía đuôi)
    • 14 × ngư lôi hoặc
    • 26 × mìn TMA hoặc
    • 39 × mìn TMB
  • 1 × Hải pháo 8,8 cm SK C/35, với 220 quả đạn [2]
  • 2 × pháo phòng không 2 cm (0,79 in) C/30 [2]
Thành tích phục vụ[1][3]
Một phần của:
  • Chi hạm đội U-boat 3
  • 18 tháng 6, 1941 – 13 tháng 5, 1943
Mã nhận diện:M 44 578
Chỉ huy:
  • Thiếu tá / Trung tá Alfred Manhardt von Mannstein
  • 18 tháng 6, 1941 – 13 tháng 5, 1943
Chiến dịch:
  • 7 chuyến tuần tra:
  • 1: 24 – 30 tháng 12, 1941
  • 2: 17 tháng 1 – 1 tháng 2, 1942
  • 3: 26 tháng 2 – 26 tháng 3, 1942
  • 4: 22 tháng 4 – 25 tháng 6, 1942
  • 5: 20 tháng 9 – 8 tháng 12, 1942
  • 6: 28 tháng 1 – 10 tháng 3, 1943
  • 7: 5 – 13 tháng 5, 1943
Chiến thắng:
  • 3 tàu buôn bị đánh chìm
    (23.117 GRT)
  • 2 tàu buôn bị hư hại
    (6.908 GRT)

U-753 là một tàu ngầm tấn công Lớp Type VII thuộc phân lớp Type VIIC được Hải quân Đức Quốc Xã chế tạo trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nhập biên chế năm 1941, nó đã thực hiện được bảy chuyến tuần tra, đánh chìm được ba tàu buôn với tổng tải trọng 23.117 GRT, đồng thời gây hư hại cho hai chiếc khác tổng tải trọng 6.908 GRT. Trong chuyến tuần tra cuối cùng, U-753 bị một thủy phi cơ Short Sunderland của Không quân Hoàng gia Canada phối hợp cùng các tàu corvette Canada HMCS Drumhellertàu frigate Anh HMS Lagan thả mìn sâu đánh chìm trong Đại Tây Dương vào ngày 13 tháng 5, 1943.

Thiết kế và chế tạo

Thiết kế

Sơ đồ các mặt cắt một tàu ngầm Type VIIC

Phân lớp VIIC của Tàu ngầm Type VII là một phiên bản VIIB được kéo dài thêm. Chúng có trọng lượng choán nước 769 t (757 tấn Anh) khi nổi và 871 t (857 tấn Anh) khi lặn).[4] Con tàu có chiều dài chung 67,10 m (220 ft 2 in), lớp vỏ trong chịu áp lực dài 50,50 m (165 ft 8 in), mạn tàu rộng 6,20 m (20 ft 4 in), chiều cao 9,60 m (31 ft 6 in) và mớn nước 4,74 m (15 ft 7 in).[4]

Chúng trang bị hai động cơ diesel Germaniawerft F46 siêu tăng áp 6-xy lanh 4 thì, tổng công suất 2.800–3.200 PS (2.100–2.400 kW; 2.800–3.200 bhp), dẫn động hai trục chân vịt đường kính 1,23 m (4,0 ft), cho phép đạt tốc độ tối đa 17,7 kn (32,8 km/h), và tầm hoạt động tối đa 8.500 nmi (15.700 km) khi đi tốc độ đường trường 10 kn (19 km/h). Khi đi ngầm dưới nước, chúng sử dụng hai động cơ/máy phát điện Garbe, Lahmeyer & Co. RP 137/c tổng công suất 750 PS (550 kW; 740 shp). Tốc độ tối đa khi lặn là 7,6 kn (14,1 km/h), và tầm hoạt động 80 nmi (150 km) ở tốc độ 4 kn (7,4 km/h). Con tàu có khả năng lặn sâu đến 230 m (750 ft).[4]

Vũ khí trang bị có năm ống phóng ngư lôi 53,3 cm (21 in), bao gồm bốn ống trước mũi và một ống phía đuôi, và mang theo tổng cộng 14 quả ngư lôi, hoặc tối đa 22 quả thủy lôi TMA, hoặc 33 quả TMB. Tàu ngầm Type VIIC bố trí một hải pháo 8,8 cm SK C/35 cùng một pháo phòng không 2 cm (0,79 in) trên boong tàu. Thủy thủ đoàn bao gồm 4 sĩ quan và 40-56 thủy thủ.[4]

Chế tạo

U-753 được đặt hàng vào ngày 9 tháng 10, 1939,[1] và được đặt lườn tại xưởng tàu Kriegsmarinewerft ở Wilhelmshaven vào ngày 3 tháng 1, 1940.[1] Nó được hạ thủy vào ngày 26 tháng 4, 1941,[1] và nhập biên chế cùng Hải quân Đức Quốc Xã vào ngày 18 tháng 6, 1941[1] dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Thiếu tá Hải quân Alfred Manhardt von Mannstein.[1]

Lịch sử hoạt động

Sau khi hoàn tất việc huấn luyện trong thành phần Chi hạm đội U-boat 3, U-753 tiếp tục nằm trong thành phần đơn vị này để hoạt động trên tuyến đầu cho đến khi bị mất.[1]

1941

Chuyến tuần tra thứ nhất

U-753 có chuyến tuần tra ngắn đầu tiên trong chiến tranh tại Bắc Hải, khi khởi hành từ cảng Kiel, Đức vào ngày 24 tháng 12, và quay trở lại Kiel vào ngày 30 tháng 12, 1941.[5]

1942

Chuyến tuần tra thứ hai

U-753 lại xuất phát từ Kiel vào ngày 17 tháng 1, 1942 cho chuyến tuần tra thứ hai. Nó tiến ra Bắc Hải, rồi băng qua khe GI-UK giữa Iceland và quần đảo Faroe để vòng qua quần đảo Anh và hoạt động tại vùng biển Bắc Đại Tây Dương về phía Tây Ireland (Khu vực Tiếp cận phía Tây).[6] Tại đây vào ngày 26 tháng 1, chiếc tàu ngầm bị hư hại nhẹ sau khi bị một tàu hộ tống của một đoàn tàu vận tải húc phải.[1] Nó kết thúc chuyến tuần tra và đi đến cảng St. Nazaire bên bờ Đại Tây Dương của Pháp vào ngày 1 tháng 2.[3]

Chuyến tuần tra thứ ba

U-753 khởi hành từ cảng St. Nazaire vào ngày 26 tháng 2 cho chuyến tuần tra thứ ba, và hoạt động tại vùng biển Bắc Đại Tây Dương về phía Tây Iceland (Khu vực Tiếp cận phía Tây).[7] Tại đây vào ngày 16 tháng 3, nó suýt tấn công một tàu buôn, nhưng kịp nhìn thấy hình cờ Ireland và ký tự EIRE được sơn bên mạn chiếc tàu buôn Ireland (trung lập) Irish Willow. Sau khi kiểm tra giấy tờ về hàng hóa được chiếc tàu buôn vận chuyển, U-753 phóng thích Irish Willow,[8] rồi kết thúc chuyến tuần tra và đi đến cảng La Pallice tại La Rochelle, cùng bên bờ Đại Tây Dương của Pháp, đến nơi vào ngày 26 tháng 3.[3]

Chuyến tuần tra thứ tư

U-752 khởi hành từ La Pallice vào ngày 22 tháng 4 cho chuyến tuần tra thứ tư, và đã băng qua suốt Đại Tây Dương để hoạt động tại các khu vực biển Caribevịnh Mexico, trong khuôn khổ Chiến dịch Paukenschlag (tiếng Anh: Chiến dịch Drumbeat).[9] Vào ngày 20 tháng 5, nó phóng ngư lôi tấn công và đánh chìm chiếc tàu buôn Hoa Kỳ George Calvert 9.116 GRT ở vị trí cách bờ biển Tây Bắc của Cuba khoảng 50 nmi (93 km).[10] Chỉ hai ngày sau đó 22 tháng 5, nó tấn công bằng súng máy rồi cài chất nổ để phá hủy chiếc E.P. Theriault 326 GRT ở vị trí khoảng 55 nmi (102 km) về phía Tây Dry Tortugas, nhưng chiếc thuyền buồm Anh đã không đắm và được kéo về Cuba để sửa chữa sau đó.[11]

Đến sáng ngày 25 tháng 5, U-752 lại phóng ngư lôi tấn công chiếc tàu chở dầu Na Uy Haakon Hauan 6.582 GRT ở vị trí dọc bờ biển New Orleans, Louisiana nhưng mục tiêu chỉ bị hư hại.[12] Tuy nhiên chỉ hai ngày sau đó 27 tháng 5, tàu chở dầu Na Uy Hamlet 6.578 GRT bị U-752 phóng ngư lôi đánh chìm ở vị trí ngoài khơi New Orleans.[13][14] Chiếc tàu ngầm kết thúc chuyến tuần tra tại cảng La Pallice vào ngày 25 tháng 6.[3]

Chuyến tuần tra thứ năm

Trong chuyến tuần tra tiếp theo, cùng xuất phát và kết thúc tại La Pallice và diễn ra từ ngày 20 tháng 9 đến ngày 8 tháng 12, U-752 đã hoạt động tại khu vực Trung tâm Bắc Đại Tây Dương, nhưng không đánh chìm được mục tiêu nào.[15]

1943

Chuyến tuần tra thứ sáu

U-753 lại xuất phát từ La Pallice vào ngày 28 tháng 1, 1943 cho chuyến tuần tra thứ sáu để tiếp tục hoạt động tại vùng biển giữa Bắc Đại Tây Dương.[16] Tại đây vào ngày 22 tháng 2, nó bắt gặp và phóng ngư lôi kết liễu chiếc tàu xưởng săn cá voi Na Uy N.T. Nielsen-Alonso 9.348 GRT, vốn đã bị bỏ lại sau khi trúng ngư lôi từ tàu ngầm U-92. U-752 sau đó phải lặn xuống né tránh sự truy đuổi của các tàu hộ tống lực lượng Đồng Minh,[17] và quay trở về La Pallice vào ngày 10 tháng 3.[3]

Chuyến tuần tra thứ bảy – Bị mất

U-753 xuất phát từ cảng La Pallice vào ngày 5 tháng 5 cho chuyến tuần tra thứ bảy, cũng là chuyến cuối cùng, để lại hoạt động trong Đại Tây Dương về phía Tây Nam Ireland.[18]

Vào ngày 13 tháng 5, đang khi theo dõi Đoàn tàu HX-237 ở khoảng cách 10 nmi (19 km), chiếc tàu ngầm bị một thủy phi cơ Short Sunderland thuộc Liên đội 432 Không quân Hoàng gia Canada phát hiện, và đã giao đấu trong 20 phút. Chiếc U-boat lặn xuống ẩn nấp sau khi tàu corvette HMCS Drumheller của Hải quân Hoàng gia Canada đi đến hiện trường. Chiếc Sunderland thả hai quả mìn sâu tấn công, và một máy bay xuất phát từ tàu sân bay hộ tống Biter đánh dấu vị trí của mục tiêu bằng pháo sáng. Tàu frigate HMS Lagan của Hải quân Hoàng gia Anh đi đến trợ giúp cho Drumheller, thả thêm hai quả mìn sâu, cuối cùng đã đánh chìm U-753 tại tọa độ 48°37′B 22°39′T / 48,617°B 22,65°T / 48.617; -22.650.[1] Toàn bộ 47 thành viên thủy thủ đoàn của U-753 đều đã tử trận.[1]

"Bầy sói" tham gia

U-753 từng tham gia mười bầy sói:

  • Schlei (19 – 24 tháng 1, 1942)
  • Westwall (2 – 12 tháng 3, 1942)
  • Luchs (27 tháng 9 – 6 tháng 10, 1942)
  • Panther (6 – 16 tháng 10, 1942)
  • Puma (16 – 22 tháng 10, 1942)
  • Natter (2 – 8 tháng 11, 1942)
  • Kreuzotter (8 – 24 tháng 11, 1942)
  • Hartherz (3 – 7 tháng 2, 1943)
  • Ritter (11 – 26 tháng 2, 1943)
  • Drossel (11 – 13 tháng 5, 1943)

Tóm tắt chiến công

U-753 đã đánh chìm được ba tàu buôn với tổng tải trọng 23.117 GRT, đồng thời gây hư hại cho hai chiếc khác tổng tải trọng 6.908 GRT:

NgàyTên tàuQuốc tịchTải trọng[Ghi chú 1]Số phận[19]
20 tháng 5, 1942George Calvert United States7.191Bị đánh chìm
22 tháng 5, 1942E.P.Theriault United Kingdom326Bị hư hại
25 tháng 5, 1942Haakon Hauan Norway6.582Bị hư hại
27 tháng 5, 1942Hamlet Norway6.578Bị đánh chìm
22 tháng 2, 1943N.T.Nielsen-Alonso Norway9.348Bị đánh chìm

Xem thêm

Tham khảo

Ghi chú

  1. Tàu buôn theo tấn đăng ký toàn phần. Tàu quân sự theo trọng lượng choán nước.

Chú thích

  1. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 Helgason, Guðmundur. "The Type VIIB U-boat U-753". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2025.
  2. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 Helgason, Guðmundur. "Type VIIC". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2025.
  3. 1 2 3 4 5 Helgason, Guðmundur. "War Patrols by German U-boat U-753". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2025.
  4. 1 2 3 4 Gröner, Jung & Maass 1991, tr. 43–46.
  5. Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-753 (first patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2025.
  6. Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-753 (second patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2025.
  7. Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-753 (third patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2025.
  8. Forde (2000), tr. 43-44.
  9. Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-753 (fourth patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2025.
  10. Helgason, Guðmundur. "George Calvert – American Steam merchant". Ships hit by U-boats - uboat.net. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2025.
  11. Helgason, Guðmundur. "George Calvert – British Sailing ship". Ships hit by U-boats - uboat.net. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2025.
  12. Helgason, Guðmundur. "Haakon Hauan – Norwegian Motor tanker". Ships hit by U-boats - uboat.net. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2025.
  13. Helgason, Guðmundur. "Hamlet – Norwegian Motor tanker". Ships hit by U-boats - uboat.net. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2025.
  14. "Warsailors (George Calvert)". Naval Encyclopedia. warsailors.com. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2025.
  15. Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-753 (fifth patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2025.
  16. Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-753 (sixth patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2025.
  17. Helgason, Guðmundur. "N.T. Nielsen-Alonso – Norwegian Whale factory ship". Ships hit by U-boats - uboat.net. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2025.
  18. Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-753 (seventh patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2025.
  19. Helgason, Guðmundur. "Ships hit by U-753". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2025.

Thư mục

Liên kết ngoài