Bước tới nội dung

U-733 (tàu ngầm Đức)

Tàu ngầm U-boat Type VIIC
Lịch sử
Đức Quốc Xã
Tên gọiU-733
Đặt hàng21 tháng 11, 1940
Xưởng đóng tàuSchichau-Werke, Danzig
Số hiệu xưởng đóng tàu1524
Đặt lườn13 tháng 10, 1941
Hạ thủy5 tháng 9, 1942
Nhập biên chế14 tháng 11, 1942
Xuất biên chế15 tháng 5, 1943
Số phận
Tái biên chế15 tháng 12, 1943[1]
Tình trạngBị đánh chìm tại Flensburg, 5 tháng 5, 1945 [1]
Đặc điểm khái quát
Lớp tàuTàu ngầm Type VIIC
Trọng tải choán nước
Chiều dài
  • 67,10 m (220 ft 2 in) (chung) [2]
  • 50,50 m (165 ft 8 in) (lườn áp lực) [2]
Sườn ngang
  • 6,20 m (20 ft 4 in) (chung) [2]
  • 4,70 m (15 ft 5 in) (lườn áp lực) [2]
Chiều cao9,60 m (31 ft 6 in) [2]
Mớn nước4,74 m (15 ft 7 in) [2]
Công suất lắp đặt
  • 2.800–3.200 PS (2.100–2.400 kW; 2.800–3.200 shp) (diesel) [2]
  • 750 PS (550 kW; 740 shp) (điện) [2]
Động cơ đẩy
Tốc độ
Tầm xa
  • 8.500 hải lý (15.700 km; 9.800 mi) ở tốc độ 10 hải lý trên giờ (19 km/h; 12 mph) (nổi) [2]
  • 80 hải lý (150 km; 92 mi) ở tốc độ 4 hải lý trên giờ (7,4 km/h; 4,6 mph) (lặn) [2]
Độ sâu thử nghiệm
  • 230 m (750 ft) [2]
  • 250–295 m (820–968 ft) (độ sâu ép vỡ tính toán)
Thủy thủ đoàn tối đa4 sĩ quan, 40-56 thủy thủ
Hệ thống cảm biến và xử lýGruppenhorchgerät
Vũ khí
  • 5 × ống phóng ngư lôi 53,3 cm (21 in) [2]
    • (4 × trước mũi, 1 × phía đuôi)
    • 14 × ngư lôi hoặc
    • 26 × mìn TMA hoặc
    • 39 × mìn TMB
  • 1 × Hải pháo 8,8 cm SK C/35, với 220 quả đạn [2]
  • 2 × pháo phòng không 2 cm (0,79 in) C/30 [2]
Thành tích phục vụ[1]
Một phần của:
  • Chi hạm đội U-boat 8
  • 14 tháng 11, 1942 – 11 tháng 5, 1943
  • Chi hạm đội U-boat 21
  • 15 tháng 12, 1943 – 28 tháng 2, 1945
  • Chi hạm đội U-boat 31
  • 1 tháng 3 – 5 tháng 5, 1945
Mã nhận diện:M 50 883
Chỉ huy:
  • Trung úy Wilhelm von Trotha
  • 14 tháng 11, 1942 – 11 tháng 5, 1943
  • Trung úy Hans Hellmann
  • 15 tháng 12, 1943 – 3 tháng 3, 1945
  • Trung úy Ulrich Hammer
  • 1 tháng 4 – 5 tháng 5, 1945
Chiến dịch:Không
Chiến thắng:Không

U-733 là một tàu ngầm tấn công Lớp Type VII thuộc phân lớp Type VIIC được Hải quân Đức Quốc Xã chế tạo trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nhập biên chế năm 1942, con tàu vẫn đang trong giai đoạn huấn luyện khi nó đắm do tai nạn va chạm tại Gotenhafen vào tháng 4, 1943. Sau khi được trục vớt và sửa chữa, nó hoạt động trở lại vào tháng 12, 1943, nhưng chỉ đơn thuần làm nhiệm vụ huấn luyện cho đến cuối Thế Chiến II. Sau khi bị hư hại nặng do không kích, U-733 bị đánh đắm tại Flensburg vào ngày 5 tháng 5, 1945. Xác tàu được trục vớt và tháo dỡ vào năm 1948.

Thiết kế và chế tạo

Thiết kế

Sơ đồ các mặt cắt một tàu ngầm Type VIIC

Phân lớp VIIC của Tàu ngầm Type VII là một phiên bản VIIB được kéo dài thêm. Chúng có trọng lượng choán nước 769 t (757 tấn Anh) khi nổi và 871 t (857 tấn Anh) khi lặn).[3] Con tàu có chiều dài chung 67,10 m (220 ft 2 in), lớp vỏ trong chịu áp lực dài 50,50 m (165 ft 8 in), mạn tàu rộng 6,20 m (20 ft 4 in), chiều cao 9,60 m (31 ft 6 in) và mớn nước 4,74 m (15 ft 7 in).[3]

Chúng trang bị hai động cơ diesel Germaniawerft F46 siêu tăng áp 6-xy lanh 4 thì, tổng công suất 2.800–3.200 PS (2.100–2.400 kW; 2.800–3.200 bhp), dẫn động hai trục chân vịt đường kính 1,23 m (4,0 ft), cho phép đạt tốc độ tối đa 17,7 kn (32,8 km/h), và tầm hoạt động tối đa 8.500 nmi (15.700 km) khi đi tốc độ đường trường 10 kn (19 km/h). Khi đi ngầm dưới nước, chúng sử dụng hai động cơ/máy phát điện Garbe, Lahmeyer & Co. RP 137/c tổng công suất 750 PS (550 kW; 740 shp). Tốc độ tối đa khi lặn là 7,6 kn (14,1 km/h), và tầm hoạt động 80 nmi (150 km) ở tốc độ 4 kn (7,4 km/h). Con tàu có khả năng lặn sâu đến 230 m (750 ft).[3]

Vũ khí trang bị có năm ống phóng ngư lôi 53,3 cm (21 in), bao gồm bốn ống trước mũi và một ống phía đuôi, và mang theo tổng cộng 14 quả ngư lôi, hoặc tối đa 22 quả thủy lôi TMA, hoặc 33 quả TMB. Tàu ngầm Type VIIC bố trí một hải pháo 8,8 cm SK C/35 cùng một pháo phòng không 2 cm (0,79 in) trên boong tàu. Thủy thủ đoàn bao gồm 4 sĩ quan và 40-56 thủy thủ.[3]

Chế tạo

U-733 được đặt hàng vào ngày 21 tháng 11, 1940,[1] và được đặt lườn tại xưởng tàu của hãng Schichau-Werke ở Danzig vào ngày 13 tháng 10, 1941.[1] Nó được hạ thủy vào ngày 5 tháng 9, 1942,[1] và nhập biên chế cùng Hải quân Đức Quốc Xã vào ngày 14 tháng 11, 1942[1] dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Trung úy Hải quân Wilhelm von Trotha.[1]

Lịch sử hoạt động

Đang khi tiến hành việc chạy thử máy và huấn luyện trong thành phần Chi hạm đội U-boat 8, vào ngày 8 tháng 4, 1943 U-733 mắc tai nạn với tàu tuần tra V 313 ở vị trí ngpài khơi Gotenhafen (nay là Gdynia thuộc Ba Lan), và đắm mà không có thiệt hại về nhân mạng.[1] Nó được trục vớt vào ngày 16 tháng 4, được sửa chữa tại xường tàu Schichau, và tái biên chế trở lại trong thành phần Chi hạm đội U-boat 21 vào ngày 15 tháng 12, 1943, dưới quyền chỉ huy của Trung úy Hải quân Hans Hellmann.[1]

U-733 sau đó chỉ đơn thuần làm nhiệm vụ huấn luyện tại khu vực biển Baltic, và được điều sang Chi hạm đội U-boat 31 từ ngày 1 tháng 3, 1945.[1] Chiếc tàu ngầm bị hư hại nặng trong một đợt không kích của Không lực 9 Không lực Lục quân Hoa Kỳ xuống khu vực Flensburg vào ngày 4 tháng 5, 1945, nên bị đánh đắm vào ngày hôm sau, tại tọa độ 54°48′B 09°49′Đ / 54,8°B 9,817°Đ / 54.800; 9.817.[1][4] Xác tàu được trục vớt và tháo dỡ vào năm 1948.[1]

Tham khảo

Chú thích

  1. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 Helgason, Guðmundur. "The Type VIIB U-boat U-733". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2025.
  2. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 Helgason, Guðmundur. "Type VIIC". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2025.
  3. 1 2 3 4 Gröner, Jung & Maass 1991, tr. 43–46.
  4. Busch & Röll 1999b, tr. 85, 358, 365.

Thư mục

Liên kết ngoài