Bước tới nội dung

U-678 (tàu ngầm Đức)

Tàu ngầm U-boat Type VIIC
Lịch sử
Đức Quốc Xã
Tên gọiU-678
Đặt hàng5 tháng 6, 1941
Xưởng đóng tàuHowaldtswerke, Hamburg
Số hiệu xưởng đóng tàu827
Đặt lườn3 tháng 9, 1942
Hạ thủy18 tháng 9, 1943
Nhập biên chế25 tháng 10, 1943
Tình trạngBị các tàu chiến Anh và Canada đánh chìm trong eo biển Manche, 6 tháng 7, 1944 [1]
Đặc điểm khái quát
Lớp tàuTàu ngầm Type VIIC
Trọng tải choán nước
Chiều dài
  • 67,10 m (220 ft 2 in) (chung) [2]
  • 50,50 m (165 ft 8 in) (lườn áp lực) [2]
Sườn ngang
  • 6,20 m (20 ft 4 in) (chung) [2]
  • 4,70 m (15 ft 5 in) (lườn áp lực) [2]
Chiều cao9,60 m (31 ft 6 in) [2]
Mớn nước4,74 m (15 ft 7 in) [2]
Công suất lắp đặt
  • 2.800–3.200 PS (2.100–2.400 kW; 2.800–3.200 shp) (diesel) [2]
  • 750 PS (550 kW; 740 shp) (điện) [2]
Động cơ đẩy
Tốc độ
Tầm xa
  • 8.500 hải lý (15.700 km; 9.800 mi) ở tốc độ 10 hải lý trên giờ (19 km/h; 12 mph) (nổi) [2]
  • 80 hải lý (150 km; 92 mi) ở tốc độ 4 hải lý trên giờ (7,4 km/h; 4,6 mph) (lặn) [2]
Độ sâu thử nghiệm
  • 230 m (750 ft) [2]
  • 250–295 m (820–968 ft) (độ sâu ép vỡ tính toán)
Thủy thủ đoàn tối đa4 sĩ quan, 40-56 thủy thủ
Hệ thống cảm biến và xử lýGruppenhorchgerät
Vũ khí
  • 5 × ống phóng ngư lôi 53,3 cm (21 in) [2]
    • (4 × trước mũi, 1 × phía đuôi)
    • 14 × ngư lôi hoặc
    • 26 × mìn TMA hoặc
    • 39 × mìn TMB
  • 1 × Hải pháo 8,8 cm SK C/35, với 220 quả đạn [2]
  • 2 × pháo phòng không 2 cm (0,79 in) C/30 [2]
Thành tích phục vụ[1][3]
Một phần của:
  • Chi hạm đội U-boat 5
  • 25 tháng 10, 1943 – 31 tháng 5, 1944
  • Chi hạm đội U-boat 7
  • 1 tháng 6 – 6 tháng 7, 1944
Mã nhận diện:M 52 381
Chỉ huy:
  • Trung úy Guido Hyronimus
  • 25 tháng 10, 1943 – 6 tháng 7, 1944
Chiến dịch:
  • 1 chuyến tuần tra:
  • 8 tháng 6 – 6 tháng 7, 1944
Chiến thắng:Không

U-678 là một tàu ngầm tấn công Lớp Type VII thuộc phân lớp Type VIIC được Hải quân Đức Quốc Xã chế tạo trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nhập biên chế năm 1943, nó chỉ thực hiện được một chuyến tuần tra duy nhất và không đánh chìm được mục tiêu nào, trước khi bị các tàu khu trục Canada HMCS OttawaHMCS Kootenay cùng tàu corvette Anh HMS Statice thả mìn sâu đánh chìm trong eo biển Manche vào ngày 6 tháng 7, 1944.

Thiết kế và chế tạo

Thiết kế

Sơ đồ các mặt cắt một tàu ngầm Type VIIC

Phân lớp VIIC của Tàu ngầm Type VII là một phiên bản VIIB được kéo dài thêm. Chúng có trọng lượng choán nước 769 t (757 tấn Anh) khi nổi và 871 t (857 tấn Anh) khi lặn).[4] Con tàu có chiều dài chung 67,10 m (220 ft 2 in), lớp vỏ trong chịu áp lực dài 50,50 m (165 ft 8 in), mạn tàu rộng 6,20 m (20 ft 4 in), chiều cao 9,60 m (31 ft 6 in) và mớn nước 4,74 m (15 ft 7 in).[4]

Chúng trang bị hai động cơ diesel Germaniawerft F46 siêu tăng áp 6-xy lanh 4 thì, tổng công suất 2.800–3.200 PS (2.100–2.400 kW; 2.800–3.200 bhp), dẫn động hai trục chân vịt đường kính 1,23 m (4,0 ft), cho phép đạt tốc độ tối đa 17,7 kn (32,8 km/h), và tầm hoạt động tối đa 8.500 nmi (15.700 km) khi đi tốc độ đường trường 10 kn (19 km/h). Khi đi ngầm dưới nước, chúng sử dụng hai động cơ/máy phát điện Garbe, Lahmeyer & Co. RP 137/c tổng công suất 750 PS (550 kW; 740 shp). Tốc độ tối đa khi lặn là 7,6 kn (14,1 km/h), và tầm hoạt động 80 nmi (150 km) ở tốc độ 4 kn (7,4 km/h). Con tàu có khả năng lặn sâu đến 230 m (750 ft).[4]

Vũ khí trang bị có năm ống phóng ngư lôi 53,3 cm (21 in), bao gồm bốn ống trước mũi và một ống phía đuôi, và mang theo tổng cộng 14 quả ngư lôi, hoặc tối đa 22 quả thủy lôi TMA, hoặc 33 quả TMB. Tàu ngầm Type VIIC bố trí một hải pháo 8,8 cm SK C/35 cùng một pháo phòng không 2 cm (0,79 in) trên boong tàu. Thủy thủ đoàn bao gồm 4 sĩ quan và 40-56 thủy thủ.[4]

Chế tạo

U-678 được đặt hàng vào ngày 5 tháng 6, 1941,[1] và được đặt lườn tại xưởng tàu của hãng Howaldtswerke ở Hamburg vào ngày 3 tháng 9, 1942.[1] Nó được hạ thủy vào ngày 18 tháng 9, 1943,[1] và nhập biên chế cùng Hải quân Đức Quốc Xã vào ngày 25 tháng 10, 1943[1] dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Trung úy Hải quân Guido Hyronimus.[1]

Lịch sử hoạt động

Sau khi hoàn tất việc huấn luyện trong thành phần Chi hạm đội U-boat 5, U-678 được điều sang Chi hạm đội U-boat 7 từ ngày 1 tháng 6, 1944 để hoạt động trên tuyến đầu cho đến khi bị mất.[1]

Vào cuối tháng 5, 1944, U-678 di chuyển từ cảng Kiel, Đức đến Marvika (gần Kristiansand), Na Uy,[3] rồi xuất phát từ đây vào ngày 8 tháng 6 cho chuyến tuần tra duy nhất trong chiến tranh. Nó đã băng qua khe GI-UK giữa Iceland và quần đảo Faroe để vòng qua quần đảo Anh và hoạt động tại vùng biển Bắc Đại Tây Dương về phía Tây Ireland (Khu vực Tiếp cận phía Tây) và trong eo biển Manche.[5]

Tại đây vào ngày 6 tháng 7, chiếc U-boat bị các tàu khu trục HMCS OttawaHMCS Kootenay của Hải quân Hoàng gia Canada cùng tàu corvette HMS Statice của Hải quân Hoàng gia Anh thả mìn sâu đánh chìm tại tọa độ 50°32′B 00°23′T / 50,533°B 0,383°T / 50.533; -0.383.[6][1] Toàn bộ 52 thành viên thủy thủ đoàn của U-678 đều đã tử trận.[1]

Xem thêm

Tham khảo

Chú thích

  1. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Helgason, Guðmundur. "The Type VIIB U-boat U-678". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2025.
  2. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 Helgason, Guðmundur. "Type VIIC". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2025.
  3. 1 2 Helgason, Guðmundur. "War Patrols by German U-boat U-678". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2025.
  4. 1 2 3 4 Gröner, Jung & Maass 1991, tr. 43–46.
  5. Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-678 (first patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2025.
  6. Busch & Röll 1999.

Thư mục

Liên kết ngoài

  • Helgason, Guðmundur. "The Type VIIC boat U-678". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2025.
  • Hofmann, Markus. "U 678". Deutsche U-Boote 1935-1945 - u-boot-archiv.de (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2025.