U-630 (tàu ngầm Đức)
Tàu ngầm U-boat Type VIIC | |
| Lịch sử | |
|---|---|
| Tên gọi | U-630 |
| Đặt hàng | 15 tháng 8, 1940 |
| Xưởng đóng tàu | Blohm & Voss, Hamburg |
| Số hiệu xưởng đóng tàu | 606 |
| Đặt lườn | 23 tháng 8, 1941 |
| Hạ thủy | 12 tháng 5, 1942 |
| Nhập biên chế | 9 tháng 7, 1942 |
| Tình trạng | Bị tàu khu trục Anh HMS Vidette đánh chìm trong Bắc Đại Tây Dương, 6 tháng 5, 1943 [1] |
| Đặc điểm khái quát | |
| Lớp tàu | Tàu ngầm Type VIIC |
| Trọng tải choán nước | |
| Chiều dài | |
| Sườn ngang | |
| Chiều cao | 9,60 m (31 ft 6 in) [2] |
| Mớn nước | 4,74 m (15 ft 7 in) [2] |
| Công suất lắp đặt | |
| Động cơ đẩy |
|
| Tốc độ |
|
| Tầm xa | |
| Độ sâu thử nghiệm |
|
| Thủy thủ đoàn tối đa | 4 sĩ quan, 40-56 thủy thủ |
| Hệ thống cảm biến và xử lý | Gruppenhorchgerät |
| Vũ khí | |
| Thành tích phục vụ[1][3] | |
| Một phần của: |
|
| Mã nhận diện: | M 21 203 |
| Chỉ huy: |
|
| Chiến dịch: |
|
| Chiến thắng: | 2 tàu buôn bị đánh chìm (14.894 GRT) |
U-630 là một tàu ngầm tấn công Lớp Type VII thuộc phân lớp Type VIIC được Hải quân Đức Quốc Xã chế tạo trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nhập biên chế năm 1942, nó chỉ thực hiện được một chuyến tuần tra duy nhất và đánh chìm được hai tàu buôn với tổng tải trọng 14.894 GRT, trước khi bị tàu khu trục HMS Vidette của Hải quân Hoàng gia Anh thả mìn sâu đánh chìm trong Bắc Đại Tây Dương vào ngày 6 tháng 5, 1943.
Thiết kế và chế tạo
Thiết kế

Phân lớp VIIC của Tàu ngầm Type VII là một phiên bản VIIB được kéo dài thêm. Chúng có trọng lượng choán nước 769 t (757 tấn Anh) khi nổi và 871 t (857 tấn Anh) khi lặn).[4] Con tàu có chiều dài chung 67,10 m (220 ft 2 in), lớp vỏ trong chịu áp lực dài 50,50 m (165 ft 8 in), mạn tàu rộng 6,20 m (20 ft 4 in), chiều cao 9,60 m (31 ft 6 in) và mớn nước 4,74 m (15 ft 7 in).[4]
Chúng trang bị hai động cơ diesel Germaniawerft F46 siêu tăng áp 6-xy lanh 4 thì, tổng công suất 2.800–3.200 PS (2.100–2.400 kW; 2.800–3.200 bhp), dẫn động hai trục chân vịt đường kính 1,23 m (4,0 ft), cho phép đạt tốc độ tối đa 17,7 kn (32,8 km/h), và tầm hoạt động tối đa 8.500 nmi (15.700 km) khi đi tốc độ đường trường 10 kn (19 km/h). Khi đi ngầm dưới nước, chúng sử dụng hai động cơ/máy phát điện Garbe, Lahmeyer & Co. RP 137/c tổng công suất 750 PS (550 kW; 740 shp). Tốc độ tối đa khi lặn là 7,6 kn (14,1 km/h), và tầm hoạt động 80 nmi (150 km) ở tốc độ 4 kn (7,4 km/h). Con tàu có khả năng lặn sâu đến 230 m (750 ft).[4]
Vũ khí trang bị có năm ống phóng ngư lôi 53,3 cm (21 in), bao gồm bốn ống trước mũi và một ống phía đuôi, và mang theo tổng cộng 14 quả ngư lôi, hoặc tối đa 22 quả thủy lôi TMA, hoặc 33 quả TMB. Tàu ngầm Type VIIC bố trí một hải pháo 8,8 cm SK C/35 cùng một pháo phòng không 2 cm (0,79 in) trên boong tàu. Thủy thủ đoàn bao gồm 4 sĩ quan và 40-56 thủy thủ.[4]
Chế tạo
U-630 được đặt hàng vào ngày 15 tháng 8, 1940,[1] và được đặt lườn tại xưởng tàu của hãng Blohm & Voss ở Hamburg vào ngày 23 tháng 8, 1941.[1] Nó được hạ thủy vào ngày 12 tháng 5, 1942,[1] và nhập biên chế cùng Hải quân Đức Quốc Xã vào ngày 9 tháng 7, 1942[1] dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Trung úy Hải quân Werner Winkler.[1]
Lịch sử hoạt động
Sau khi hoàn tất việc huấn luyện trong thành phần Chi hạm đội U-boat 5, U-630 được điều sang Chi hạm đội U-boat 11 từ ngày 1 tháng 4, 1943 để hoạt động trên tuyến đầu cho đến khi bị mất.[1]
U-630 xuất phát từ cảng Kiel, Đức vào ngày 18 tháng 3 cho chuyến tuần tra duy nhất trong chiến tranh. Nó băng qua khe GI-UK giữa Iceland và quần đảo Faroe để vòng qua quần đảo Anh và hoạt động tại khu vực Trung tâm Bắc Đại Tây Dương.[5]
Ở vị trí về phía Đông Nam Greenland, nó cùng 15 tàu U-boat khác tham gia bầy sói Löwenherz để tấn công Đoàn tàu HX-231, và đến ngày 5 tháng 4 đã phóng ngư lôi kết liễu các tàu buôn Anh Shillong 5.529 GRT[6] và Waroonga 9.365 GRT,[7] cả hai đều đã bị hư hại do trúng ngư lôi từ tàu ngầm U-635 vào ngày hôm trước.
Đến ngày 6 tháng 5, 1943, nó bị tàu khu trục HMS Vidette của Hải quân Hoàng gia Anh thả mìn sâu đánh chìm trong Bắc Đại Tây Dương về phía Đông Bắc Newfoundland, tại tọa độ 52°31′B 44°50′T / 52,517°B 44,833°T.[1] Toàn bộ 47 thành viên thủy thủ đoàn của U-630 đều đã tử trận.[1]
"Bầy sói" tham gia
U-630 từng tham gia bốn bầy sói:
- Löwenherz (1 – 10 tháng 4, 1943)
- Lerche (10 – 15 tháng 4, 1943)
- Specht (22 tháng 4 – 4 tháng 5, 1943)
- Fink (4 – 6 tháng 5, 1943)
Tóm tắt chiến công
U-630 đã đánh chìm được hai tàu buôn tổng tải trọng 14.894 GRT:
| Ngày | Tên tàu | Quốc tịch | Tải trọng[Ghi chú 1] | Số phận[8] |
|---|---|---|---|---|
| 5 tháng 4, 1943 | Shillong | 5.529 | Bị hư hại | |
| 5 tháng 4, 1943 | Waroonga | 9.365 | Bị đánh chìm |
Xem thêm
Tham khảo
Ghi chú
- ↑ Tàu buôn theo tấn đăng ký toàn phần. Tàu quân sự theo trọng lượng choán nước.
Chú thích
- 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Helgason, Guðmundur. "The Type VIIC U-boat U-630". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2025.
- 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 Helgason, Guðmundur. "Type VIIC". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2025.
- ↑ Helgason, Guðmundur. "War Patrols by German U-boat U-630". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2025.
- 1 2 3 4 Gröner, Jung & Maass 1991, tr. 43–46.
- ↑ Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-630 (first patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2025.
- ↑ Helgason, Guðmundur. "Shillong – British Motor merchant". Ships hit by U-boats – uboat.net. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2025.
- ↑ Helgason, Guðmundur. "Waroonga – British Steam merchant". Ships hit by U-boats – uboat.net. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2025.
- ↑ Helgason, Guðmundur. "Ships hit by U-630". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2025.
Thư mục
- Busch, Rainer; Röll, Hans-Joachim (1999). German U-boat commanders of World War II : a biographical dictionary. Brooks, Geoffrey biên dịch. London, Annapolis, Maryland: Greenhill Books, Naval Institute Press. ISBN 1-55750-186-6.
- Busch, Rainer; Röll, Hans-Joachim (1999). Deutsche U-Boot-Verluste von September 1939 bis Mai 1945 [German U-boat losses from September 1939 to May 1945]. Der U-Boot-Krieg (bằng tiếng Đức). Quyển IV. Hamburg, Berlin, Bonn: Mittler. ISBN 3-8132-0514-2.
- Edwards, Bernard (1996). Dönitz and the Wolf Packs – The U-boats at War. Cassell Military Classics. tr. 182, 184, 197. ISBN 0-304-35203-9.
- Gröner, Erich; Jung, Dieter; Maass, Martin (1991). U-boats and Mine Warfare Vessels. German Warships 1815–1945. Quyển 2. Thomas, Keith; Magowan, Rachel biên dịch. London: Conway Maritime Press. ISBN 0-85177-593-4.
- Kemp, Paul (1997). U-Boats Destroyed - German Submarine Losses in the World Wars. Arms & Armour. ISBN 1-85409-515-3.
- Neistlé, Axel (2014). German U-Boat Losses during World War II: Details of Destruction (ấn bản thứ 2). Havertown: Frontline Books. ISBN 978-1848322103.
- Sharpe, Peter (1998). U-Boat Fact File: Detailed Service Histories of the Submarines Operated by the Kriegsmarine 1935-1945. Leicester: Midland Publishing. ISBN 1-85780-072-9.
Liên kết ngoài
- Helgason, Guðmundur. "The Type VIIC boat U-630". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2025.
- Hofmann, Markus. "U 630". Deutsche U-Boote 1935-1945 - u-boot-archiv.de (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2025.