Bước tới nội dung

U-299 (tàu ngầm Đức)

U-995, một chiếc Type VIIC/41 tiêu biểu, hiện là tàu bảo tàng tại Laboe, Đức
Lịch sử
Đức Quốc Xã
Tên gọiU-299
Đặt hàng23 tháng 3, 1942
Xưởng đóng tàuVegesacker Werft, Bremen-Vegesack
Số hiệu xưởng đóng tàu64
Đặt lườn1 tháng 3, 1943
Hạ thủy6 tháng 11, 1943
Nhập biên chế15 tháng 12, 1943
Tình trạng
Đặc điểm khái quát
Lớp tàuTàu ngầm Type VIIC/41
Trọng tải choán nước
Chiều dài
  • 67,10 m (220 ft 2 in) (chung) [2]
  • 50,50 m (165 ft 8 in) (lườn áp lực) [2]
Sườn ngang
  • 6,20 m (20 ft 4 in) (chung) [2]
  • 4,70 m (15 ft 5 in) (lườn áp lực) [2]
Chiều cao9,60 m (31 ft 6 in) [2]
Mớn nước4,74 m (15 ft 7 in) [2]
Công suất lắp đặt
  • 2.800–3.200 PS (2.100–2.400 kW; 2.800–3.200 shp) (diesel) [2]
  • 750 PS (550 kW; 740 shp) (điện) [2]
Động cơ đẩy
Tốc độ
Tầm xa
  • 8.500 hải lý (15.700 km; 9.800 mi) ở tốc độ 10 hải lý trên giờ (19 km/h; 12 mph) (nổi) [2]
  • 80 hải lý (150 km; 92 mi) ở tốc độ 4 hải lý trên giờ (7,4 km/h; 4,6 mph) (lặn) [2]
Độ sâu thử nghiệm
  • 250 m (820 ft) [2]
  • 275–325 m (902–1.066 ft) (độ sâu ép vỡ tính toán)
Thủy thủ đoàn tối đa4 sĩ quan, 40-56 thủy thủ
Vũ khí
  • 5 × ống phóng ngư lôi 53,3 cm (21 in) [2]
    • (4 × trước mũi, 1 × phía đuôi)
    • 14 × ngư lôi
  • 1 × Hải pháo 8,8 cm SK C/35, với 220 quả đạn [2]
  • 1 × pháo phòng không 3,7 cm (1,5 in) Flak M42 [2]
  • 2 × pháo phòng không 2 cm (0,79 in) C/30 [2]
Thành tích phục vụ[1][3]
Một phần của:
  • Chi hạm đội U-boat 8
  • 15 tháng 12, 1943 – 31 tháng 7, 1944
  • Chi hạm đội U-boat 11
  • 1 tháng 8 – 4 tháng 11, 1944
  • Chi hạm đội U-boat 13
  • 5 tháng 11, 1944 – 28 tháng 2, 1945
  • Chi hạm đội U-boat 14
  • 1 tháng 3 – 8 tháng 5, 1945
Mã nhận diện:M 05 506
Chỉ huy:
  • Trung úy Helmuth Heinrich
  • 15 tháng 12, 1943 – 9 tháng 8, 1944
  • Trung úy Dietrich Zehle
  • 9 tháng 8 – 3 tháng 9, 1944
  • Trung úy Helmuth Heinrich
  • 3 tháng 9 – 31 tháng 10, 1944
  • Trung úy Bernhard Emde
  • 1 tháng 11, 1944 – 9 tháng 5, 1945
Chiến dịch:
  • 6 chuyến tuần tra:
  • 1: 5 – 20 tháng 7, 1944
  • 2: 11 – 28 tháng 10, 1944
  • 3: 13 – 16 tháng 11, 1944
  • 4: 21 tháng 11 – 31 tháng 12, 1944
  • 5: 18 – 21 tháng 1, 1945
  • 6: 24 tháng 1 – 15 tháng 4, 1945
Chiến thắng:Không

U-299 là một tàu ngầm tấn công Lớp Type VII thuộc phân lớp Type VIIC/41 được Hải quân Đức Quốc Xã chế tạo trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nhập biên chế năm 1943, nó đã thực hiện được sáu chuyến tuần tra nhưng không đánh chìm được mục tiêu nào. U-299 sống sót qua Thế Chiến II, đầu hàng lực lượng Đồng Minh tại Kristiansand, Na Uy vào ngày 9 tháng 5, 1945, và cuối cùng đánh đắm ngoài khơi Bắc Ireland trong khuôn khổ Chiến dịch Deadlight vào ngày 4 tháng 12, 1945.

Thiết kế và chế tạo

Thiết kế

Mặt cắt của một tàu ngầm Type VIIC

Phân lớp VIIC/41 của Tàu ngầm Type VII là một phiên bản VIIC được cải tiến nhẹ có trọng ượng chung nhẹ hơn. Chúng có trọng lượng choán nước 759 t (747 tấn Anh) khi nổi và 860 t (850 tấn Anh) khi lặn).[4] Con tàu có chiều dài chung 67,10 m (220 ft 2 in), lớp vỏ trong chịu áp lực dài 50,50 m (165 ft 8 in), mạn tàu rộng 6,20 m (20 ft 4 in), chiều cao 9,60 m (31 ft 6 in) và mớn nước 4,74 m (15 ft 7 in).[4]

Chúng trang bị hai động cơ diesel Germaniawerft F46 siêu tăng áp 6-xy lanh 4 thì, tổng công suất 2.800–3.200 PS (2.100–2.400 kW; 2.800–3.200 bhp), dẫn động hai trục chân vịt đường kính 1,23 m (4,0 ft), cho phép đạt tốc độ tối đa 17,7 kn (32,8 km/h), và tầm hoạt động tối đa 8.500 nmi (15.700 km) khi đi tốc độ đường trường 10 kn (19 km/h). Khi đi ngầm dưới nước, chúng sử dụng hai động cơ/máy phát điện Garbe, Lahmeyer & Co. RP 137/c tổng công suất 750 PS (550 kW; 740 shp). Tốc độ tối đa khi lặn là 7,6 kn (14,1 km/h), và tầm hoạt động 80 nmi (150 km) ở tốc độ 4 kn (7,4 km/h). Với lườn áp lực chắn chắn hơn, phân lớp VIIC/41 có khả năng lặn sâu đến 250 m (820 ft).[4]

Vũ khí trang bị có năm ống phóng ngư lôi 53,3 cm (21 in), bao gồm bốn ống trước mũi và một ống phía đuôi, và mang theo tổng cộng 14 quả ngư lôi, hoặc tối đa 22 quả thủy lôi TMA, hoặc 33 quả TMB. Tàu ngầm Type VIIC bố trí một hải pháo 8,8 cm SK C/35, một pháo phòng không 3,7 cm (1,5 in) Flak M42 cùng hai pháo phòng không 2 cm (0,79 in) trên boong tàu. Thủy thủ đoàn bao gồm 4 sĩ quan và 40-56 thủy thủ.[4]

Chế tạo

U-299 được đặt hàng vào ngày 23 tháng 3, 1942,[1] và được đặt lườn tại xưởng tàu Vegesacker Werft ở Bremen-Vegesack vào ngày 1 tháng 3, 1943.[1] Nó được hạ thủy vào ngày 6 tháng 11, 1943,[1] và nhập biên chế cùng Hải quân Đức Quốc Xã vào ngày 15 tháng 12, 1943[1] dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Trung úy Hải quân Helmuth Heinrich.[1]

Lịch sử hoạt động

1944

Sau khi hoàn tất việc huấn luyện trong thành phần Chi hạm đội U-boat 8, U-299 được điều sang Chi hạm đội U-boat 11 từ ngày 1 tháng 8, 1944 để hoạt động trên tuyến đầu.[1] Nó lại được điều sang Chi hạm đội U-boat 13 từ ngày 5 tháng 11,[1] rồi sang Chi hạm đội U-boat 14 từ ngày 1 tháng 3, 1945 cho đến khi xung đột kết thúc.[1]

Chuyến tuần tra thứ nhất

Vào giữa tháng 6, 1944, U-299 đã di chuyển từ cảng Kiel, Đức đến cảng Stavanger, Na Uy,[3] rồi xuất phát từ đây vào ngày 5 tháng 7 cho chuyến tuần tra đầu tiên trong chiến tranh. Nó đã tiến ra Bắc Hải và hoạt động dọc theo bờ biển Na Uy. Trung úy Heinrich hạm trưởng đã bị thương trong một vụ không kích của đối phương vào ngày 16 tháng 7, và chiếc U-boat kết thúc chuyến tuần tra tại Bergen, Na Uy vào ngày 20 tháng 7.[5] Sau đó trong tháng 8tháng 9, con tàu di chuyển từ Bergen đến các cảng LarvikKristiansand cùng thuộc Na Uy.[3]

Chuyến tuần tra thứ hai và thứ ba

U-299 khởi hành từ Kristiansand vào ngày 11 tháng 10 cho chuyến tuần tra thứ hai, và tiếp tục hoạt động tại khu vực Bắc Hải trước khi đi đến cảng Bergen, Na Uy vào ngày 28 tháng 10.[6]

Trong chuyến tuần tra ngắn tiếp theo, chiếc tàu ngầm xuất phát từ Bergen vào ngày 13 tháng 11 để hoạt động dọc bờ biển Na Uy, trước khi đi đến cảng Trondheim, Na Uy ba ngày sau đó.[7]

Chuyến tuần tra thứ tư

U-299 xuất phát từ Trondheim vào ngày 21 tháng 11 cho chuyến tuần tra thứ tư, và đã vòng qua cực Bắc Na Uy để hoạt động trong biển Barents ngoài khơi bán đảo Kola, Liên Xô. Nó kết thúc chuyến tuần tra tại Bogenbrucht, (phía Tây Narvik) vào ngày 31 tháng 12.[8]

1945

Chuyến tuần tra thứ năm và thứ sáu

U-299 khởi hành từ Bogenbrucht vào ngày 18 tháng 1, 1945 cho chuyến tuần tra thứ năm, và hoạt động dọc bờ biển Na Uy trước khi quay trở lại Trondheim ba ngày sau đó.[9]

Chiếc tàu ngầm lại rời cảng Trondheim vào ngày 24 tháng 1 cho chuyến tuần tra thứ sáu, là chuyến cuối cùng đồng thời là chuyến đi dài ngày nhất của chiếc U-boat. Nó hoạt động tại các vùng biển Na Uy và Bắc Hải, và kết thúc chuyến tuần tra tại cảng Kristiansand vào ngày 15 tháng 4.[10]

Số phận

Khi Thế Chiến II đi vào giai đoạn kết thúc, U-299 đầu hàng lực lượng Đồng Minh tại Kristiansand vào ngày 9 tháng 5, 1945,[1] rồi được kéo đến Loch Ryan, Scotland vào ngày 29 tháng 5.[1] Cuối cùng chiếc tàu ngầm bị loại bỏ trong khuôn khổ Chiến dịch Deadlight vào ngày 4 tháng 12, 1945, khi nó bị hải pháo từ tàu khu trục HMS Obedient đánh chìm ngoài khơi Bắc Ireland tại tọa độ 55°38′B 07°54′T / 55,633°B 7,9°T / 55.633; -7.900.[1][11]

"Bầy sói" tham gia

U-299 từng tham gia một bầy sói:

  • Stier (25 tháng 11 – 24 tháng 12, 1944)

Xem thêm

Tham khảo

Chú thích

  1. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 Helgason, Guðmundur. "The Type VIIC/41 U-boat U-299". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2025.
  2. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 Helgason, Guðmundur. "Type VIIC/41". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2025.
  3. 1 2 3 Helgason, Guðmundur. "War Patrols by German U-boat U-299". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2025.
  4. 1 2 3 4 Gröner, Jung & Maass 1991, tr. 43–46.
  5. Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-299 (first patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2025.
  6. Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-299 (second patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2025.
  7. Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-299 (third patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2025.
  8. Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-299 (fourth patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2025.
  9. Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-299 (fifth patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2025.
  10. Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-299 (sixth patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2025.
  11. Hofmann, Markus. "U 299". Deutsche U-Boote 1935-1945 - u-boot-archiv.de (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2015.

Thư mục

  • Busch, Rainer; Röll, Hans-Joachim (1999). German U-boat commanders of World War II : a biographical dictionary. Brooks, Geoffrey biên dịch. London, Annapolis, Maryland: Greenhill Books, Naval Institute Press. ISBN 1-55750-186-6.
  • Busch, Rainer; Röll, Hans-Joachim (1999). Deutsche U-Boot-Verluste von September 1939 bis Mai 1945 [German U-boat losses from September 1939 to May 1945]. Der U-Boot-Krieg (bằng tiếng Đức). Quyển IV. Hamburg, Berlin, Bonn: Mittler. ISBN 3-8132-0514-2.
  • Gröner, Erich; Jung, Dieter; Maass, Martin (1991). U-boats and Mine Warfare Vessels. German Warships 1815–1945. Quyển 2. Thomas, Keith; Magowan, Rachel biên dịch. London: Conway Maritime Press. ISBN 0-85177-593-4.
  • Neistlé, Axel (2014). German U-Boat Losses during World War II: Details of Destruction (ấn bản thứ 2). Havertown: Frontline Books. ISBN 978-1848322103.
  • Sharpe, Peter (1998). U-Boat Fact File: Detailed Service Histories of the Submarines Operated by the Kriegsmarine 1935-1945. Leicester: Midland Publishing. ISBN 1-85780-072-9.

Liên kết ngoài

  • Helgason, Guðmundur. "The Type VIIC boat U-299". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2025.
  • Hofmann, Markus. "U 299". Deutsche U-Boote 1935-1945 - u-boot-archiv.de (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2025.