U-1022 (tàu ngầm Đức)
U-995, một chiếc Type VIIC/41 tiêu biểu, hiện là tàu bảo tàng tại Laboe, Đức | |
| Lịch sử | |
|---|---|
| Tên gọi | U-1022 |
| Đặt hàng | 13 tháng 6, 1942 |
| Xưởng đóng tàu | Blohm & Voss, Hamburg |
| Số hiệu xưởng đóng tàu | 222 |
| Đặt lườn | 6 tháng 5, 1943 |
| Hạ thủy | 13 tháng 4, 1944 |
| Nhập biên chế | 7 tháng 6, 1944 |
| Tình trạng |
|
| Đặc điểm khái quát | |
| Lớp tàu | Tàu ngầm Type VIIC/41 |
| Trọng tải choán nước | |
| Chiều dài | |
| Sườn ngang | |
| Chiều cao | 9,60 m (31 ft 6 in) [2] |
| Mớn nước | 4,74 m (15 ft 7 in) [2] |
| Công suất lắp đặt | |
| Động cơ đẩy |
|
| Tốc độ |
|
| Tầm xa | |
| Độ sâu thử nghiệm |
|
| Thủy thủ đoàn tối đa | 4 sĩ quan, 40-56 thủy thủ |
| Vũ khí | |
| Thành tích phục vụ[1][3] | |
| Một phần của: |
|
| Mã nhận diện: | M 38 350 |
| Chỉ huy: |
|
| Chiến dịch: |
|
| Chiến thắng: |
|
U-1022 là một tàu ngầm tấn công Lớp Type VII thuộc phân lớp Type VIIC/41 được Hải quân Đức Quốc Xã chế tạo trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nhập biên chế năm 1944, nó chỉ thực hiện được một chuyến tuần tra duy nhất và đánh chìm được một tàu buôn tải trọng 1.392 GRT cùng một tàu chiến phụ trợ tải trọng 328 GRT. U-1022 sống sót qua Thế Chiến II, đầu hàng lực lượng Đồng Minh tại Bergen, Na Uy vào ngày 9 tháng 5, 1945, và cuối cùng đánh đắm ngoài khơi Bắc Ireland trong khuôn khổ Chiến dịch Deadlight vào ngày 29 tháng 12, 1945.
Thiết kế và chế tạo
Thiết kế

Phân lớp VIIC/41 của Tàu ngầm Type VII là một phiên bản VIIC được cải tiến nhẹ có trọng ượng chung nhẹ hơn. Chúng có trọng lượng choán nước 759 t (747 tấn Anh) khi nổi và 860 t (850 tấn Anh) khi lặn).[4] Con tàu có chiều dài chung 67,10 m (220 ft 2 in), lớp vỏ trong chịu áp lực dài 50,50 m (165 ft 8 in), mạn tàu rộng 6,20 m (20 ft 4 in), chiều cao 9,60 m (31 ft 6 in) và mớn nước 4,74 m (15 ft 7 in).[4]
Chúng trang bị hai động cơ diesel Germaniawerft F46 siêu tăng áp 6-xy lanh 4 thì, tổng công suất 2.800–3.200 PS (2.100–2.400 kW; 2.800–3.200 bhp), dẫn động hai trục chân vịt đường kính 1,23 m (4,0 ft), cho phép đạt tốc độ tối đa 17,7 kn (32,8 km/h), và tầm hoạt động tối đa 8.500 nmi (15.700 km) khi đi tốc độ đường trường 10 kn (19 km/h). Khi đi ngầm dưới nước, chúng sử dụng hai động cơ/máy phát điện Garbe, Lahmeyer & Co. RP 137/c tổng công suất 750 PS (550 kW; 740 shp). Tốc độ tối đa khi lặn là 7,6 kn (14,1 km/h), và tầm hoạt động 80 nmi (150 km) ở tốc độ 4 kn (7,4 km/h). Với lườn áp lực chắn chắn hơn, phân lớp VIIC/41 có khả năng lặn sâu đến 250 m (820 ft).[4]
Vũ khí trang bị có năm ống phóng ngư lôi 53,3 cm (21 in), bao gồm bốn ống trước mũi và một ống phía đuôi, và mang theo tổng cộng 14 quả ngư lôi, hoặc tối đa 22 quả thủy lôi TMA, hoặc 33 quả TMB. Tàu ngầm Type VIIC bố trí một hải pháo 8,8 cm SK C/35, một pháo phòng không 3,7 cm (1,5 in) Flak M42 cùng hai pháo phòng không 2 cm (0,79 in) trên boong tàu. Thủy thủ đoàn bao gồm 4 sĩ quan và 40-56 thủy thủ.[4]
Chế tạo
U-1022 được đặt hàng vào ngày 13 tháng 6, 1942,[1] và được đặt lườn tại xưởng tàu Blohm & Voss ở Hamburg vào ngày 6 tháng 5, 1943.[1] Nó được hạ thủy vào ngày 13 tháng 4, 1944,[1] và nhập biên chế cùng Hải quân Đức Quốc Xã vào ngày 7 tháng 6, 1944[1] dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Đại úy Hải quân Hans-Joachim Ernst.[1]
Lịch sử hoạt động
Sau khi hoàn tất việc huấn luyện trong thành phần Chi hạm đội U-boat 31, U-1022 được điều sang Chi hạm đội U-boat 11 từ ngày 1 tháng 2, 1945 để hoạt động trên tuyến đầu cho đến khi bị mất.[1]
Vào cuối tháng 1, 1945, U-1022 di chuyển từ cảng Kiel, Đức đến cảng Kalundborg, Đan Mạch, rồi đến các cảng Horten và Bergen cùng thuộc Na Uy.[3] Nó xuất phát từ Bergen vào ngày 12 tháng 2 cho chuyến tuần tra duy nhất trong chiến tranh, băng qua khe GI-UK giữa các quần đảo Shetland và Faroe để vòng qua quần đảo Anh và hoạt động tại vùng biển Bắc Đại Tây Dương về phía Nam Iceland.[5]
Tại đây vào ngày 28 tháng 2, nó phóng ngư lôi tấn công Đoàn tàu UR-155, và đã đánh chìm chiếc tàu buôn Panama Alcedo 1.392 GRT.[6] Đến ngày 3 tháng 3, nó lại tấn công và đánh chìm chiếc tàu đánh cá vũ trang Anh HMS Southern Flower 328 GRT.[7] Chiếc U-boat kết thúc chuyến tuần tra và quay trở về cảng Bergen vào ngày 1 tháng 4.[3]
Sau khi Đức Quốc xã chấp nhận đầu hàng, U-1022 đã đầu hàng lực lượng Đồng Minh tại Bergen vào ngày 9 tháng 5, 1945.[1] Nó được chuyển đến Lisahally, Bắc Ireland vào ngày 29 tháng 5, và cuối cùng bị loại bỏ trong khuôn khổ Chiến dịch Deadlight, bị đánh chìm ngoài khơi Bắc Ireland vào ngày 29 tháng 12, 1945, tại tọa độ 55°40′B 08°15′T / 55,667°B 8,25°T.[1]
Tóm tắt chiến công
U-1022 đã đánh chìm được một tàu buôn tải trọng 1.392 GRT cùng một tàu chiến phụ trợ tải trọng 328 GRT:
| Ngày | Tên tàu | Quốc tịch | Tải trọng[Ghi chú 1] | Số phận[8] |
|---|---|---|---|---|
| 28 tháng 2, 1945 | Alcedo | 1.392 | Bị đánh chìm | |
| 3 tháng 3, 1945 | HMT Southern Flower | 328 | Bị đánh chìm |
Xem thêm
Tham khảo
Ghi chú
- ↑ Tàu buôn theo tấn đăng ký toàn phần. Tàu quân sự theo trọng lượng choán nước.
Chú thích
- 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 Helgason, Guðmundur. "The Type VIIC/41 U-boat U-1022". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2025.
- 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 Helgason, Guðmundur. "Type VIIC/41". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2025.
- 1 2 3 Helgason, Guðmundur. "War Patrols by German U-boat U-1022". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2025.
- 1 2 3 4 Gröner, Jung & Maass 1991, tr. 43–46.
- ↑ Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-1022 (first patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2025.
- ↑ Helgason, Guðmundur. "Alcedo – Panamanian Steam merchant". Ships hit by U-boats - uboat.net. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2025.
- ↑ Helgason, Guðmundur. "HMS Southern Flower (FY 332) – British A/S trawler". Ships hit by U-boats - uboat.net. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2025.
- ↑ Helgason, Guðmundur. "Ships hit by U-1022". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2025.
Thư mục
- Busch, Rainer; Röll, Hans-Joachim (1999). German U-boat commanders of World War II : a biographical dictionary. Brooks, Geoffrey biên dịch. London, Annapolis, Maryland: Greenhill Books, Naval Institute Press. ISBN 1-55750-186-6.
- Busch, Rainer; Röll, Hans-Joachim (1999). Deutsche U-Boot-Verluste von September 1939 bis Mai 1945 [German U-boat losses from September 1939 to May 1945]. Der U-Boot-Krieg (bằng tiếng Đức). Quyển IV. Hamburg, Berlin, Bonn: Mittler. ISBN 3-8132-0514-2.
- Gröner, Erich; Jung, Dieter; Maass, Martin (1991). U-boats and Mine Warfare Vessels. German Warships 1815–1945. Quyển 2. Thomas, Keith; Magowan, Rachel biên dịch. London: Conway Maritime Press. ISBN 0-85177-593-4.
- Neistlé, Axel (2014). German U-Boat Losses during World War II: Details of Destruction (ấn bản thứ 2). Havertown: Frontline Books. ISBN 978-1848322103.
- Sharpe, Peter (1998). U-Boat Fact File: Detailed Service Histories of the Submarines Operated by the Kriegsmarine 1935-1945. Leicester: Midland Publishing. ISBN 1-85780-072-9.
Liên kết ngoài
- Helgason, Guðmundur. "The Type VIIC boat U-1022". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2025.