HMS Totem (P352)
Tàu ngầm HMS Totem (P 352) tại Plymouth, 16 tháng 12 năm 1944 | |
| Lịch sử | |
|---|---|
| Tên gọi | HMS Totem (P 352) |
| Đặt hàng | 30 tháng 5, 1942 |
| Xưởng đóng tàu | Xưởng tàu Devonport |
| Đặt lườn | 22 tháng 10, 1942 |
| Hạ thủy | 28 tháng 9, 1943 |
| Nhập biên chế | 9 tháng 1, 1945 |
| Số phận | Bán cho Israel, 1965 |
| Tên gọi | INS Dakar (77) |
| Đặt tên theo | cá kiếm |
| Nhập biên chế | 10 tháng 11, 1967 |
| Số phận | Đắm vào khoảng ngày 25 tháng 9, 1968 |
| Đặc điểm khái quát | |
| Lớp tàu | lớp T |
| Kiểu tàu | tàu ngầm diesel-điện |
| Trọng tải choán nước | |
| Chiều dài | 276 ft (84,124800 m)[chuyển đổi: tùy chọn không hợp lệ][1] |
| Sườn ngang | 25 ft 6 in (7,8 m) |
| Mớn nước |
|
| Động cơ đẩy |
|
| Tốc độ |
|
| Tầm xa | 8.000 nmi (15.000 km; 9.200 mi) ở tốc độ 10 kn (19 km/h; 12 mph) |
| Tầm hoạt động | 131 tấn nhiên liệu |
| Độ sâu thử nghiệm | 300 ft (91 m)[2] |
| Thủy thủ đoàn tối đa | 59[1] |
| Vũ khí | |
HMS Totem (P 352) là một tàu ngầm lớp T thuộc Nhóm III, được Hải quân Hoàng gia Anh chế tạo trong Chương trình Chế tạo 1942 vào cuối Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nhập biên chế vào đầu năm 1945, con tàu chỉ kịp thực hiện được hai chuyến tuần tra và không đánh chìm được mục tiêu nào trước khi cuộc xung đột kết thúc. Sau khi tiếp tục phục vụ cùng Hải quân Hoàng gia trong giai đoạn Chiến tranh Lạnh, nó được bán cho Israel như là chiếc INS Dakar (77) vào năm 1967. Chiếc tàu ngầm bị đắm trong Địa Trung Hải vào tháng 1, 1968 mà không rõ nguyên nhân.
Thiết kế và chế tạo HMS Totem (P352)
Thiết kế

Lớp tàu ngầm T được thiết kế nhằm mục đích thay thế cho các các lớp Odin, Parthian và Rainbow. Chúng có trọng lượng choán nước 1.090 tấn Anh (1.107 t) khi nổi và 1.575 tấn Anh (1.600 t) khi lặn, lườn tàu có chiều dài chung 276 ft 6 in (84,28 m), mạn tàu rộng 26 ft 6 in (8,08 m) và mớn nước sâu 14 ft 7 in (4,45 m). Thủy thủ đoàn đầy đủ bao gồm 59 sĩ quan và thủy thủ,[1] và nhờ đóng bằng kỹ thuật hàn nên có thể lặn sâu đến 350 ft (110 m).[3]
Tàu ngầm lớp T được trang bị hai động cơ diesel có tổng công suất 2.500 mã lực phanh (1.864 kW), mỗi chiếc vận hành một trục chân vịt. Khi lặn, mỗi trục được vận hành bởi một động cơ điện công suất 725 mã lực (541 kW). Khi di chuyển trên mặt nước nó đạt tốc độ tối đa 15,25 hải lý trên giờ (28,24 km/h; 17,55 mph) và 9 hải lý trên giờ (17 km/h; 10 mph) khi lặn dưới nước. Chúng có tầm xa hoạt động đến 8.000 hải lý (15.000 km; 9.200 mi) ở tốc độ 10 hải lý trên giờ (19 km/h; 12 mph).[1]
Totem trang bị mười một ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm), gồm sáu ống bên trong và năm ống bên ngoài, với tám ống ra phía trước và ba ống còn lại hướng ra phía đuôi, và mang theo tổng cộng 17 quả ngư lôi. Vũ khí trên boong tàu là một khẩu hải pháo QF 4 inch (101,6 mm) Mk XII cùng ba khẩu súng máy .303-calibre cho mục đích phòng không.[1]
Chế tạo
Totem được đặt hàng vào ngày 30 tháng 5, 1942 trong khuôn khổ Chương trình Chế tạo 1942, và được đặt lườn tại Xưởng tàu Devonport vào ngày 22 tháng 10, 1942. Nó được hạ thủy vào ngày 28 tháng 9, 1943, và nhập biên chế cùng Hải quân Hoàng gia vào ngày 9 tháng 1, 1945 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Đại úy Hải quân Michael B. St. John.[4] Nó là chiếc tàu chiến duy nhất của Hải quân Hoàng gia Anh được đặt cái tên này.
Lịch sử hoạt động HMS Totem (P352)
HMS Totem
Thế Chiến II
Sau khi hoàn tất việc chạy thử máy và huấn luyện tại các vùng biển Anh và Scotland, Totem xuất phát từ cảng Lerwick vào ngày 8 tháng 4, 1945 cho chuyến tuần tra đầu tiên trong chiến tranh. Sau khi hoạt động trong khu vực Bắc Hải ngoài khơi Bergen, Na Uy, nó kết thúc chuyến tuần tra và quay trở về Lerwick vào ngày 19 tháng 4.[4]
Sau đó chiếc tàu ngầm khởi hành từ Holy Loch vào ngày 6 tháng 5 để đi sang Gibraltar do được điều động sang phục vụ tại Viễn Đông. Sau hành trình dài lần lượt đi ngang qua Malta, Port Said, kênh đào Suez, Aden và Trincomalee, nó đi đến Fremantle, Australia vào ngày 26 tháng 7.[4]
Totem xuất phát từ Fremantle vào ngày 13 tháng 8 cho chuyến tuần tra thứ hai, dự định sẽ hoạt động tại khu vực biển Java. Tuy nhiên chỉ hai ngày sau đó, Đế quốc Nhật Bản chấp nhận đầu hàng giúp kết thúc cuộc xung đột. Vì vậy chiếc tàu ngầm được gọi quay trở lại căn cứ, về đến Fremantle vào ngày 18 tháng 8. Nó tiếp tục ở lại vùng biển Australia trong tháng 9.[4]
Sau chiến tranh
Khi Totem viếng thăm Halifax, Canada vào năm 1945, nó được các bộ lạc Cowichan trao tặng một cây cột totem. Nó được dựng ở phía trước cầu tàu mỗi khi chiếc tàu ngầm neo đậu trong cảng, nhưng lại bị đánh cắp vào thập niên 1950.[5]
Những hình ảnh HMS Totem (P352)
- HMS Totemvào tháng 9, 1945, cho thấy rõ hai trong số ba ống phóng ngư lôi hướng ra phía đuôi
- HMS Totem vào tháng 9, 1945. Cột totem pole hình chữ thập ở phía trước của cầu tàu
- Cột totem được HMS Totem mang theo
- Phao cứu hộ khẩn cấp của Dakar được trưng bày tại bảo tàng ở Haifa.
- Xác tàu đắm của INS Dakar
Tham khảo HMS Totem (P352)
Chú thích
- 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 Helgason, Guðmundur. "T class – Technical information". U-boat Types - uboat.net. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2026.
- ↑ Kemp (1990), tr. 22, 26.
- ↑ Kemp (1990), tr. 20–21.
- 1 2 3 4 Helgason, Guðmundur. "HMS Totem (P 352) – Submarine of the T Class". Allied Warships - uboat.net. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2026.
- ↑ "The Collection – Star objects". Royal Navy submarine museum. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 1 năm 2007. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2006.
Thư mục
- Akermann, Paul (2002). Encyclopaedia of British Submarines 1901–1955 . Penzance, Cornwall: Periscope Publishing. ISBN 1-904381-05-7.
- Aldrich, Richard (ngày 10 tháng 6 năm 2010). GCHQ. HarperPress. tr. https://archive.org/details/gchquncensoredst00aldr/page/n288. ISBN 978-0007312665.
- Bagnasco, Erminio (1977). Submarines of World War Two. Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 0-87021-962-6.
- Chesneau, Roger, biên tập (1980). Conway's All the World's Fighting Ships 1922–1946. Greenwich, UK: Conway Maritime Press. ISBN 0-85177-146-7.
- Colledge, J. J.; Warlow, Ben (1969). Ships of the Royal Navy: the complete record of all fighting ships of the Royal Navy (Rev. ed.). London: Chatham. ISBN 978-1-86176-281-8. OCLC 67375475.
- Hennessy, Peter; Jinks, James (2016). The Silent Deep: The Royal Navy Submarine Service since 1945. Penguin. ISBN 978-0241959480.
- Hutchinson, Robert (2001). Jane's Submarines: War Beneath the Waves from 1776 to the Present Day. London: HarperCollins. ISBN 978-0-00-710558-8. OCLC 53783010.
- Kemp, Paul J. (1990). The T-class Submarine: The Classic British Design. Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 1-55750-826-7. OCLC 22575300.
- McCartney, Innes (2006). British Submarines 1939–1945. New Vanguard. Quyển 129. Oxford, UK: Osprey. ISBN 1-84603-007-2.
- Rohwer, Jürgen (2005). Chronology of the War at Sea 1939–1945: The Naval History of World War Two . Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 1-59114-119-2.
Liên kết ngoài HMS Totem (P352)
- Helgason, Guðmundur. "T class – Technical information". U-boat Types - uboat.net. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2026.
- Helgason, Guðmundur. "HMS Totem (P 352) – Submarine of the T Class". Allied Warships - uboat.net. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2026.
- Story of the INS Dakar
- Lớp tàu ngầm Anh T
- Tàu ngầm của Hải quân Hoàng gia Anh trong Thế Chiến II
- Tàu ngầm của Hải quân Hoàng gia Anh trong Chiến tranh Lạnh
- Tàu ngầm của Hải quân Israel trong Chiến tranh Lạnh
- Tai nạn tàu ngầm
- Xác tàu đắm trong Địa Trung Hải
- Sự cố hàng hải năm 1968
- Tàu thủy năm 1943