Bước tới nội dung

HMS Trump (P333)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Tàu ngầm HMS Trump (P333), 5 tháng 7 năm 1944
Lịch sử
Anh Quốc
Tên gọiHMS Trump (P333)
Đặt hàng20 tháng 12, 1941
Xưởng đóng tàuVickers-Armstrongs, Barrow-in-Furness
Đặt lườn31 tháng 12, 1942
Hạ thủy25 tháng 3, 1944
Nhập biên chế8 tháng 7, 1944
Số phậnBán để tháo dỡ, tháng 8, 1971
Đặc điểm khái quát
Lớp tàulớp T
Kiểu tàutàu ngầm diesel-điện
Trọng tải choán nước
Chiều dài276 ft 6 in (84,3 m)[1]
Sườn ngang25 ft 6 in (7,8 m)
Mớn nước
  • 12 ft 9 in (3,89 m) (phía mũi)
  • 14 ft 7 in (4,45 m) (phía đuôi)
Động cơ đẩy
Tốc độ
Tầm xa8.000 nmi (15.000 km; 9.200 mi) ở tốc độ 10 kn (19 km/h; 12 mph)
Tầm hoạt động131 tấn nhiên liệu
Độ sâu thử nghiệm300 ft (91 m)[2]
Thủy thủ đoàn tối đa59[1]
Vũ khí
  • 11 × ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm) [1]
    • 6 × phía mũi
    • 5 × bên ngoài
    • 17 × ngư lôi
  • 1 × hải pháo QF 4 inch (101,6 mm) Mk XII [1]
  • 3 × súng máy .303-calibre[1]

HMS Trump (P333) là một tàu ngầm lớp T thuộc Nhóm III, được Hải quân Hoàng gia Anh chế tạo trong Chương trình Chế tạo 1941 trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nhập biên chế năm 1944, con tàu đã thực hiện được bốn chuyến tuần tra, hầu hết tại khu vực Viễn Đông, đánh chìm một tàu buôn cùng một tàu chiến phụ trợ có tổng tải trọng 1.043 GRT cùng các thuyền buồm và tàu duyên hải nhỏ khác. Trump sống sót qua cuộc xung đột và tiếp tục phục vụ trong giai đoạn Chiến tranh Lạnh, và sau khi được hiện đại hóa đã phục vụ cùng Chi hạm đội Tàu ngầm 4 đặt căn cứ tại Sydney, Australia từ năm 1961 đến năm 1969. Nó cuối cùng bị bán để tháo dỡ vào tháng 8, 1971.

Thiết kế và chế tạo

Thiết kế

Sơ đồ ngang và đứng của một tàu ngầm lớp T Nhóm III tiêu biểu

Lớp tàu ngầm T được thiết kế nhằm mục đích thay thế cho các các lớp Odin, ParthianRainbow. Chúng có trọng lượng choán nước 1.090 tấn Anh (1.107 t) khi nổi và 1.575 tấn Anh (1.600 t) khi lặn, lườn tàu có chiều dài chung 276 ft 6 in (84,28 m), mạn tàu rộng 26 ft 6 in (8,08 m) và mớn nước sâu 14 ft 7 in (4,45 m). Thủy thủ đoàn đầy đủ bao gồm 59 sĩ quan và thủy thủ, và con tàu có thể lặn sâu đến 300 ft (91 m).[1] Trump nằm trong số những chiếc có lườn tàu được chế tạo hoàn toàn bằng kỹ thuật hàn, cho phép nó có thể lặn sâu đến 350 ft (110 m).[3]

Tàu ngầm lớp T được trang bị hai động cơ diesel có tổng công suất 2.500 mã lực phanh (1.864 kW), mỗi chiếc vận hành một trục chân vịt. Khi lặn, mỗi trục được vận hành bởi một động cơ điện công suất 725 mã lực (541 kW). Khi di chuyển trên mặt nước nó đạt tốc độ tối đa 15,25 hải lý trên giờ (28,24 km/h; 17,55 mph)9 hải lý trên giờ (17 km/h; 10 mph) khi lặn dưới nước. Chúng có tầm xa hoạt động đến 8.000 hải lý (15.000 km; 9.200 mi) ở tốc độ 10 hải lý trên giờ (19 km/h; 12 mph).[1] Do được dự định sẽ hoạt động tại khu vực khí hậu nhiệt đới, tàu ngầm thuộc nhóm III sau này được trang bị điều hòa không khí để giúp làm giảm nhiệt độ bên trong tàu.[4]

Trump trang bị mười một ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm), gồm sáu ống bên trong và năm ống bên ngoài, với tám ống ra phía trước và ba ống còn lại hướng ra phía đuôi, và mang theo tổng cộng 17 quả ngư lôi. Vũ khí trên boong tàu là một khẩu hải pháo QF 4 inch (101,6 mm) Mk XII cùng ba khẩu súng máy .303-calibre cho mục đích phòng không.[1]

Chế tạo

Trump là một tàu ngầm lớp T thuộc Nhóm III,[5] được đặt hàng vào ngày 20 tháng 12, 1941 trong khuôn khổ Chương trình Chế tạo 1941,[6] và được đặt lườn tại xưởng tàu của hãng Vickers-Armstrongs ở Barrow-in-Furness vào ngày 31 tháng 12, 1942. Nó được hạ thủy vào ngày 25 tháng 3, 1944, và nhập biên chế cùng Hải quân Hoàng gia vào ngày 8 tháng 7, 1944 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Trung tá Hải quân Edward F. Balston.[7][8] Nó là chiếc tàu chiến duy nhất của Hải quân Hoàng gia Anh được đặt cái tên này.[7]

Lịch sử hoạt động

1944

Chuyến tuần tra thứ nhất

Sau khi hoàn tất việc chạy thử máy và huấn luyện tại các vùng biển Anh và Scotland, Trump xuất phát từ cảng Lerwick vào ngày 21 tháng 9, 1944 cho chuyến tuần tra đầu tiên trong chiến tranh. Nó đã hoạt động chống tàu ngầm tại khu vực Bắc Hải về phía Đông Scotland, và kết thúc chuyến tuần tra khi đi đến Scapa Flow vào ngày 29 tháng 9.[8]

1945

Sau khi được bảo trì và nâng cấp radar tại Portsmouth, Trump rời cảng Portland vào ngày 13 tháng 1, 1945 do được điều động sang phục vụ tại Viễn Đông. Sau khi đã lần lượt đi ngang qua Gibraltar, Malta, Port Said, kênh đào SuezAden, nó đi đến Trincomalee, Ceylon (nay là Sri Lanka) vào ngày 1 tháng 3.[7][8]

Chuyến tuần tra thứ hai

Trump xuất phát từ Trincomalee vào ngày 13 tháng 3 cho chuyến tuần tra thứ hai, và hoạt động dọc theo bờ biển phía Tây của Miến Điện. Vào ngày 30 tháng 3, nó bị một thủy phi cơ Aichi E13A ném hai quả bom tấn công, nhưng chỉ bị hư hại nhẹ. Kết thúc chuyến tuần tra, Trump đi đến cảng Fremantle, Australia vào ngày 13 tháng 4.[7][8]

Chiếc tàu ngầm gia nhập Chi hạm đội Tàu ngầm 4 đặt căn cứ tại đây, và được bảo trì cặp bên mạn tàu tiếp liệu tàu ngầm HMS Adamant.[5][8]

Chuyến tuần tra thứ ba

Trump xuất phát từ Fremantle vào ngày 4 tháng 5 cho chuyến tuần tra thứ ba, và hoạt động tại khu vực biển Java. Nó bị một máy bay hai động cơ ném bom tấn công vào ngày 11 tháng 5 nhưng chỉ bị hư hại nhẹ. Hai ngày sau đó, nó đánh chìm chiếc pháo hạm Nhật Bản Shosei Maru Số 15 43 GRT bằng hải pháo trong eo biển Sapudi,[9] và phóng ba quả ngư lôi tấn công một tàu hộ tống nhưng không trúng đích. Sau đó trong các ngày 25, 29 tháng 51 tháng 6, Trump lần lượt đánh chìm một thuyền buồm và hai tàu duyên hải bằng hải pháo, rồi đến ngày 5 tháng 6 lại đánh chìm một tàu chở dầu khoảng 1.000 tấn bằng ngư lôi và hải pháo ở phía Tây Bắc Bali. Chiếc tàu ngầm kết thúc chuyến tuần tra tại Fremantle vào ngày 17 tháng 6.[8]

Chuyến tuần tra thứ tư

Trump khởi hành từ Fremantle vào ngày 16 tháng 7 cho chuyến tuần tra thứ tư, và đã phối hợp cùng tàu ngầm chị em HMS Tiptoe để hoạt động tại khu vực eo biển Sunda. Vào ngày 2 tháng 8, Trump cùng với Tiptoe đánh chìm hai tàu nhỏ bằng hải pháo, rồi sang ngày hôm sau Tiptoe phóng ngư lôi tấn công một đoàn tàu vận tải, đánh chìm chiếc tàu chở hàng Lục quân Tencho Maru 2.716 GRT.[9] Đến ngày 9 tháng 8, Trump lại phối hợp với Tiptoe đánh chìm một tàu chở dầu không rõ nhận dạng ở phía Bắc eo biển Sunda. Nó quay trở về Fremantle vào ngày 21 tháng 8.[8]

Sau khi Đế quốc Nhật Bản chấp nhận đầu hàng giúp kết thúc cuộc xung đột, Tiptoe tiếp tục ở lại vùng biển phía Tây Australia, rồi lên đường quay trở về Anh.[7][8]

Tóm tắt chiến công

Trump đã đánh chìm được một tàu buôn và một tàu chiến phụ trợ có tổng tải trọng 1.042 GRT.[8]

NgàyTên tàuQuốc tịchTải trọng[Ghi chú 1]Số phận
13 tháng 5, 1945Shosei Maru Số 15 Hải quân Nhật Bản43Bị đánh chìm
5 tháng 6, 1945không xác định Nhật Bản1.000Bị đánh chìm

Tham khảo

Ghi chú

  1. Tàu buôn theo tấn đăng ký toàn phần. Tàu quân sự theo trọng lượng choán nước.

Chú thích

  1. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 Helgason, Guðmundur. "T class – Technical information". U-boat Types - uboat.net. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2026.
  2. Kemp (1990), tr. 22, 26.
  3. McCarthy (2006), tr. 13.
  4. McCartney (2006), tr. 13.
  5. 1 2 Akermann (2002), tr. 386.
  6. McCarthy (2006), tr. 12.
  7. 1 2 3 4 5 Mason, Lt Cdr Geoffrey B. (ngày 30 tháng 11 năm 2010). "HMS Trump – T-class Submarine". Naval History. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2026.
  8. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 Helgason, Guðmundur. "HMS Trump (P 333) – Submarine of the T Class". Allied Warships - uboat.net. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2025.
  9. 1 2 Cressman, Robert J. "Chapter VII: 1945". The Official Chronology of the US Navy in World War II. ibiblio.org. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2011.

Thư mục

  • Akermann, Paul (2002). Encyclopaedia of British Submarines 1901–1955 . Penzance, Cornwall: Periscope Publishing. ISBN 1-904381-05-7.
  • Bagnasco, Erminio (1977). Submarines of World War Two. Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 0-87021-962-6.
  • Chesneau, Roger, biên tập (1980). Conway's All the World's Fighting Ships 1922–1946. Greenwich, UK: Conway Maritime Press. ISBN 0-85177-146-7.
  • Colledge, J. J.; Warlow, Ben (1969). Ships of the Royal Navy: the complete record of all fighting ships of the Royal Navy (Rev. ed.). London: Chatham. ISBN 978-1-86176-281-8. OCLC 67375475.
  • Jeremy, John (2005). Cockatoo Island: Sydney's Historic Dockyard. University of New South Wales Press. ISBN 978-0-86840-817-0.
  • Kemp, Paul J. (1990). The T-class Submarine: The Classic British Design. Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 1-55750-826-7. OCLC 22575300.
  • McCartney, Innes (2006). British Submarines 1939–1945. New Vanguard. Quyển 129. Oxford, UK: Osprey. ISBN 1-84603-007-2.
  • Rohwer, Jürgen (2005). Chronology of the War at Sea 1939–1945: The Naval History of World War Two . Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 1-59114-119-2.
  • Rose, Susan (2008). The Naval Miscellany. Quyển 7. Ashgate Publishing Limited. ISBN 978-0-7546-6431-4.

Liên kết ngoài