HMS Thorn (N11)
Tàu ngầm HMS Thorn (N11) vào năm 1941 | |
| Lịch sử | |
|---|---|
| Tên gọi | HMS Thorn (N11) |
| Đặt hàng | 4 tháng 9, 1939 |
| Xưởng đóng tàu | Cammell Laird, Birkenhead |
| Đặt lườn | 20 tháng 1, 1940 |
| Hạ thủy | 18 tháng 3, 1941 |
| Nhập biên chế | 26 tháng 8, 1941 |
| Số phận |
|
| Đặc điểm khái quát | |
| Lớp tàu | lớp T |
| Kiểu tàu | tàu ngầm diesel-điện |
| Trọng tải choán nước | |
| Chiều dài | 276 ft 6 in (84,3 m)[1] |
| Sườn ngang | 25 ft 6 in (7,8 m) |
| Mớn nước |
|
| Động cơ đẩy |
|
| Tốc độ |
|
| Tầm xa | 8.000 nmi (15.000 km; 9.200 mi) ở tốc độ 10 kn (19 km/h; 12 mph) |
| Tầm hoạt động | 131 tấn nhiên liệu |
| Độ sâu thử nghiệm | 300 ft (91 m)[2] |
| Thủy thủ đoàn tối đa | 59[1] |
| Vũ khí | |
HMS Thorn (N11) là một tàu ngầm lớp T thuộc Nhóm II, được Hải quân Hoàng gia Anh chế tạo trong Chương trình Khẩn cấp Chiến tranh 1939 trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nhập biên chế năm 1941, con tàu đã thực hiện được tám chuyến tuần tra tại khu vực Địa Trung Hải, đánh chìm được ba tàu buôn có tổng tải trọng 12.937 GRT cùng một tàu chiến 660 tấn và một tàu chiến phụ trợ 259 GRT. Nó mất tích trong chuyến tuần tra cuối cùng, nhiều khả năng đã bị tàu phóng lôi Ý Pegaso đánh chìm trong Địa Trung Hải ngoài khơi đảo Crete vào ngày 7 tháng 8, 1942.
Thiết kế và chế tạo
Thiết kế

Lớp tàu ngầm T được thiết kế nhằm mục đích thay thế cho các các lớp Odin, Parthian và Rainbow. Chúng có trọng lượng choán nước 1.090 tấn Anh (1.107 t) khi nổi và 1.575 tấn Anh (1.600 t) khi lặn, lườn tàu có chiều dài chung 276 ft 6 in (84,28 m), mạn tàu rộng 26 ft 6 in (8,08 m) và mớn nước sâu 14 ft 7 in (4,45 m). Thủy thủ đoàn đầy đủ bao gồm 59 sĩ quan và thủy thủ, và con tàu có thể lặn sâu đến 300 ft (91 m).[1]
Tàu ngầm lớp T được trang bị hai động cơ diesel có tổng công suất 2.500 mã lực phanh (1.864 kW), mỗi chiếc vận hành một trục chân vịt. Khi lặn, mỗi trục được vận hành bởi một động cơ điện công suất 725 mã lực (541 kW). Khi di chuyển trên mặt nước nó đạt tốc độ tối đa 15,25 hải lý trên giờ (28,24 km/h; 17,55 mph) và 9 hải lý trên giờ (17 km/h; 10 mph) khi lặn dưới nước. Chúng có tầm xa hoạt động đến 8.000 hải lý (15.000 km; 9.200 mi) ở tốc độ 10 hải lý trên giờ (19 km/h; 12 mph).[1]
Thorn trang bị mười một ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm), gồm sáu ống bên trong và năm ống bên ngoài, với tám ống ra phía trước và ba ống còn lại hướng ra phía đuôi, và mang theo tổng cộng 17 quả ngư lôi. Vũ khí trên boong tàu là một khẩu hải pháo QF 4 inch (101,6 mm) Mk XII cùng ba khẩu súng máy .303-calibre cho mục đích phòng không.[1]
Chế tạo
Thorn được đặt hàng vào ngày 4 tháng 9, 1939 trong khuôn khổ Chương trình Khẩn cấp Chiến tranh 1939, và được đặt lườn tại xưởng tàu của hãng Cammell Laird ở Birkenhead vào ngày 20 tháng 1, 1940. Nó được hạ thủy vào ngày 18 tháng 3 , 1941, và nhập biên chế cùng Hải quân Hoàng gia vào ngày 26 tháng , 1941 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Thiếu tá Hải quân Robert G. Norfolk.[3] Nó là chiếc tàu chiến thứ ba của Hải quân Hoàng gia Anh được đặt cái tên này.
Lịch sử hoạt động
1941
Sau khi thực hành huấn luyện tại các vùng biển Scotland, Thorn khởi hành từ Holy Loch vào ngày 22 tháng 9, 1941 để đi sang Gibraltar, đến nơi vào ngày 29 tháng 9. Nó lại lên đường vào ngày 2 tháng 10 để tiếp tục đi sang Malta.[3] Trên đường đi vào ngày 8 tháng 10, ở vị trí khoảng 50 nmi (93 km) về phía Tây Bắc đảo Marettimo (phía Tây Sicilia), nó phát hiện nên phóng ngư lôi tấn công chiếc tàu buôn Ý Una nhưng không trúng đích. Chiếc tàu ngầm đi đến Malta hai ngày sau đó.[3]
Chuyến tuần tra thứ nhất
Thorn xuất phát từ Malta vào ngày 13 tháng 10 cho chuyến tuần tra đầu tiên trong chiến tranh, và hoạt động tại khu vực biển Ionia dọc bờ biển phía Tây của Hy Lạp. Nó chỉ bắt gặp những tàu nhỏ, và kết thúc chuyến tuần tra khi đi đến cảng Alexandria, Ai Cập vào ngày 27 tháng 10.[3]
1942
Chuyến tuần tra thứ tám – Bị mất tích
Thorn xuất phát từ Beirut vào ngày 21 tháng 7 cho chuyến tuần tra thứ tám, cũng là chuyến cuối cùng. Con tàu thoạt tiên hoạt động ngoài khơi Tobruk, rồi được lệnh chuyển đến vị trí 30 nmi (56 km) về phía Đông Ras-el-Tin, Libya ba ngày sau đó. Ở vị trí gần Bardia, Libya vào ngày 26 tháng 7. tàu vận tải Đức Ostia 359 GRT bị hai quả ngư lôi tấn công nhưng không trúng đích; các quả ngư lôi này có thể đã được phóng bởi Thorn. Trong một bức điện được gửi về căn cứ lần sau cùng vào ngày 29 tháng 7, Thorn báo cáo bắt gặp nhiều mục tiêu tại khu vực Tobruk, nên xin phép ở lại khu vực tuần tra, và được chấp nhận.[3]
Đến ngày 3 tháng 8, tàu vận tải Ý Monsivo 5.322 GRT bị đánh chìm do trúng hai quả ngư lôi, nhiều khả năng được phóng bởi Thorn, ở vị trí khoảng 8 nmi (15 km) về phía Tây Bắc Benghazi, Libya. Trong khi cứu vớt những người sống sót, tàu khu trục Ý Albino bị một quả ngư lôi nhắm đến, nhưng Albino cơ động né tránh được.[3]
Thorn sau đó hoàn toàn mất liên lạc với căn cứ, và được cho là đã mất vào ngày 7 tháng 8, 1942, khi tìm cách tấn công chiếc tàu vận tải Ý Istria ở vị trí khoảng 30 nmi (56 km) về phía Tây Nam đảo Gavdos (Tây Nam đảo Crete). Nó có thể đã bị tàu phóng lôi Ý Pegaso phản công bằng mìn sâu, và bị đánh chìm tại tọa độ 34°25′B 22°36′Đ / 34,417°B 22,6°Đ.[3][4]
Tóm tắt chiến công
Thorn đã đánh chìm được ba tàu buôn có tổng tải trọng 12.937 GRT cùng một tàu chiến 660 tấn và một tàu chiến phụ trợ 259 GRT.[3]
| Ngày | Tên tàu | Quốc tịch | Tải trọng[Ghi chú 1] | Số phận |
|---|---|---|---|---|
| 30 tháng 12, 1941 | Campina | 3.032 | Bị đánh chìm | |
| 28 tháng 1, 1942 | Ninuccia | 4.583 | Bị đánh chìm | |
| 30 tháng 1, 1942 | Medusa | 660 | Bị đánh chìm | |
| 5 tháng 3, 1942 | AS 91 / Ottavia | 259 | Bị đánh chìm | |
| 3 tháng 8, 1942 | Monsivo | 5.322 | Bị đánh chìm |
Tham khảo
Ghi chú
- ↑ Tàu buôn theo tấn đăng ký toàn phần. Tàu quân sự theo trọng lượng choán nước.
Chú thích
- 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 Helgason, Guðmundur. "T class – Technical information". U-boat Types - uboat.net. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2026.
- ↑ Kemp (1990), tr. 22, 26.
- 1 2 3 4 5 6 7 8 Helgason, Guðmundur. "HMS Thorn (N 11) – Submarine of the T Class". Allied Warships - uboat.net (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2025.
- ↑ "Submarine losses 1904 to present day". RN Submarine Museum, Gosport. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2007.
Thư mục
- Akermann, Paul (2002). Encyclopaedia of British Submarines 1901–1955 . Penzance, Cornwall: Periscope Publishing. ISBN 1-904381-05-7.
- Bagnasco, Erminio (1977). Submarines of World War Two. Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 0-87021-962-6.
- Chesneau, Roger, biên tập (1980). Conway's All the World's Fighting Ships 1922–1946. Greenwich, UK: Conway Maritime Press. ISBN 0-85177-146-7.
- Colledge, J. J.; Warlow, Ben (1969). Ships of the Royal Navy: the complete record of all fighting ships of the Royal Navy (Rev. ed.). London: Chatham. ISBN 978-1-86176-281-8. OCLC 67375475.
- Hutchinson, Robert (2001). Jane's Submarines: War Beneath the Waves from 1776 to the Present Day. London: HarperCollins. ISBN 978-0-00-710558-8. OCLC 53783010.
- Kemp, Paul J. (1990). The T-class Submarine: The Classic British Design. Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 1-55750-826-7. OCLC 22575300.
- McCartney, Innes (2006). British Submarines 1939–1945. New Vanguard. Quyển 129. Oxford, UK: Osprey. ISBN 1-84603-007-2.
- Rohwer, Jürgen (2005). Chronology of the War at Sea 1939–1945: The Naval History of World War Two . Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 1-59114-119-2.
Liên kết ngoài
- Helgason, Guðmundur. "T class – Technical information". U-boat Types - uboat.net. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2026.
- Helgason, Guðmundur. "HMS Thorn (N 11) – Submarine of the T Class". Allied Warships - uboat.net. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2025.
- Lớp tàu ngầm Anh T
- Tàu ngầm của Hải quân Hoàng gia Anh trong Thế Chiến II
- Tàu ngầm bị tàu chiến Ý đánh chìm
- Xác tàu đắm trong Thế Chiến II tại Địa Trung Hải
- Sự cố hàng hải năm 1942
- Tàu thủy năm 1941