HMS Telemachus (P321)
Tàu ngầm HMS Telemachus (P321) đang neo đậu tại Melbourne, 17 tháng 12 năm 1949 | |
| Lịch sử | |
|---|---|
| Tên gọi | HMS Telemachus (P321) |
| Đặt tên theo | Telemachus |
| Đặt hàng | 3 tháng 8, 1941 |
| Xưởng đóng tàu | Vickers-Armstrongs, Barrow-in-Furness |
| Đặt lườn | 25 tháng 8, 1942 |
| Hạ thủy | 19 tháng 6, 1943 |
| Nhập biên chế | 25 tháng 10, 1943 |
| Số phận | Bán để tháo dỡ, 1 tháng 8, 1961 |
| Đặc điểm khái quát | |
| Lớp tàu | lớp T |
| Kiểu tàu | tàu ngầm diesel-điện |
| Trọng tải choán nước | |
| Chiều dài | 276 ft 6 in (84,3 m)[1] |
| Sườn ngang | 25 ft 6 in (7,8 m) |
| Mớn nước |
|
| Động cơ đẩy |
|
| Tốc độ |
|
| Tầm xa | 8.000 nmi (15.000 km; 9.200 mi) ở tốc độ 10 kn (19 km/h; 12 mph) |
| Tầm hoạt động | 131 tấn nhiên liệu |
| Độ sâu thử nghiệm | 300 ft (91 m)[2] |
| Thủy thủ đoàn tối đa | 59[1] |
| Vũ khí | |
HMS Telemachus (P321)[Ghi chú 1] là một tàu ngầm lớp T thuộc Nhóm III, được Hải quân Hoàng gia Anh chế tạo trong Chương trình Chế tạo 1941 trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nhập biên chế năm 1943, con tàu đã thực hiện được năm chuyến tuần tra, hầu hết tại khu vực Viễn Đông và từng đánh chìm tàu ngầm I-166 (1.635 tấn) của Hải quân Đế quốc Nhật Bản. Telemachus sống sót qua cuộc xung đột, tiếp tục phục vụ trong giai đoạn Chiến tranh Lạnh khi được biệt phái sang hoạt động phối hợp cùng Hải quân Hoàng gia Australia cho đến năm 1959, và cuối cùng bị bán để tháo dỡ vào tháng 8, 1961.
Thiết kế và chế tạo
Thiết kế

Lớp tàu ngầm T được thiết kế nhằm mục đích thay thế cho các các lớp Odin, Parthian và Rainbow. Chúng có trọng lượng choán nước 1.090 tấn Anh (1.107 t) khi nổi và 1.575 tấn Anh (1.600 t) khi lặn, lườn tàu có chiều dài chung 276 ft 6 in (84,28 m), mạn tàu rộng 26 ft 6 in (8,08 m) và mớn nước sâu 14 ft 7 in (4,45 m). Thủy thủ đoàn đầy đủ bao gồm 59 sĩ quan và thủy thủ, và con tàu có thể lặn sâu đến 300 ft (91 m).[1]
Tàu ngầm lớp T được trang bị hai động cơ diesel có tổng công suất 2.500 mã lực phanh (1.864 kW), mỗi chiếc vận hành một trục chân vịt. Khi lặn, mỗi trục được vận hành bởi một động cơ điện công suất 725 mã lực (541 kW). Khi di chuyển trên mặt nước nó đạt tốc độ tối đa 15,25 hải lý trên giờ (28,24 km/h; 17,55 mph) và 9 hải lý trên giờ (17 km/h; 10 mph) khi lặn dưới nước. Chúng có tầm xa hoạt động đến 8.000 hải lý (15.000 km; 9.200 mi) ở tốc độ 10 hải lý trên giờ (19 km/h; 12 mph).[1]
Telemachus trang bị mười một ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm), gồm sáu ống bên trong và năm ống bên ngoài, với tám ống ra phía trước và ba ống còn lại hướng ra phía đuôi, và mang theo tổng cộng 17 quả ngư lôi. Vũ khí trên boong tàu là một khẩu hải pháo QF 4 inch (101,6 mm) Mk XII cùng ba khẩu súng máy .303-calibre cho mục đích phòng không.[1]
Chế tạo
Telemachus được đặt hàng vào ngày 3 tháng 8, 1941 trong khuôn khổ Chương trình Chế tạo 1940, và được đặt lườn tại xưởng tàu của hãng Vickers-Armstrongs ở Barrow-in-Furness vào ngày 25 tháng 8, 1941.[3] Nó được hạ thủy vào ngày 19 tháng 6, 1943, và nhập biên chế cùng Hải quân Hoàng gia vào ngày 25 tháng 10, 1943 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Trung tá Hải quân William D. A. King.[4][5] Nó là chiếc tàu chiến thứ hai của Hải quân Hoàng gia Anh được đặt cái tên này.[4]
Lịch sử hoạt động
1944
Chuyến tuần tra thứ nhất
Sau khi thực hành huấn luyện tại các vùng biển Anh và Scotland, Telemachus xuất phát từ cảng Lerwick vào ngày 13 tháng 1, 1944 cho chuyến tuần tra đầu tiên trong chiến tranh. Nó đã hoạt động tại khu vực biển Na Uy về phía Đông Bắc quần đảo Faroe và phía Tây Trondheim trước khi quay trở về Lerwick vào ngày 26 tháng 1.[5]
Chiếc tàu ngầm được thay thế ắc-quy tại Plymouth vào cuối tháng 1, rồi tiếp tục thực hành huấn luyện tại các vùng biển Scotland cho đến ngày 17 tháng 4, khi nó khởi hành từ cảng Holy Loch để di chuyển sang Gibraltar do được điều động sang phục vụ tại Viễn Đông.[4] Sau khi lần lượt đi ngang qua Malta, Port Said, kênh đào Suez và Aden, nó đi đến Trincomalee, Ceylon (nay là Sri Lanka) vào ngày 19 tháng 6.[5]
Sau chiến tranh
Telemachus tiếp tục phục vụ cùng Hải quân Hoàng gia trong giai đoạn Chiến tranh Lạnh. Nó nằm trong số ba tàu ngầm được Bộ Hải quân Anh bố trí đặt căn cứ tại Sydney, Australia để hoạt động phối hợp huấn luyện chống tàu ngầm cùng Hải quân Hoàng gia Australia, sau khi Australia quyết định sẽ sở hữu tàu sân bay HMAS Sydney.[6][7]
Telemachus rời Anh vào ngày 19 tháng 10, 1949 và đi đến Australia vào tháng 12 năm đó, là chiếc đầu tiên gia nhập Chi hạm đội Tàu ngầm 4 đặt căn cứ tại Sydney (trước Thorough (P324) và Tactician (P314)). Con tàu từng được bảo trì tại Singapore cũng như hoạt động tại vùng biển Nhật Bản để phối hợp huấn luyện chống tàu ngầm cùng các tàu chiến tham gia cuộc Chiến tranh Triều Tiên.[8] Đến tháng 5, 1954, nó hoạt động phối hợp cùng các tàu khu trục Australia HMAS Anzac và HMAS Vengeance, tàu tuần dương New Zealand HMNZS Black Prince và tàu ngầm chị em HMS Thorough.[9]
Từ tháng 6 đến tháng 8, 1956, Telemachus hoạt động phối hợp cùng Hải quân Australia khảo sát thủy đạc Lãnh thổ Nam cực thuộc Úc.[10] Chuyến đi kéo dài suốt 7.500 mi (12.100 km), bao gồm 130 lượt đo đạc ở độ sâu 50–200 ft (15–61 m).[11] Con tàu từng gặp sự cố mất liên lạc với các tàu đồng đội trong hai tiếng rưỡi vào ngày 3 tháng 6, nhưng sau đó được một máy bay Douglas C-47 Skytrain phát hiện.[12]
Sau gần mười năm hoạt động biệt phái sang Australia, Telemachus quay trở về Anh vào ngày 9 tháng 12, 1959.[13] Chiếc tàu ngầm bị bán để tháo dỡ tại Charlestown vào ngày 28 tháng 8, 1961.[5]
Tóm tắt chiến công
Telemachus đã đánh chìm được một tàu chiến tải trọng 1.635 tấn.[5]
| Ngày | Tên tàu | Quốc tịch | Tải trọng[Ghi chú 2] | Số phận |
|---|---|---|---|---|
| 17 tháng 7, 1944 | I-166 | 1.635 | Bị đánh chìm |
Tham khảo
Ghi chú
- ↑ Tên được đặt theo Telemachus, một nhân vật trong Thần thoại Hy Lạp
- ↑ Tàu buôn theo tấn đăng ký toàn phần. Tàu quân sự theo trọng lượng choán nước.
Chú thích
- 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 Helgason, Guðmundur. "T class – Technical information". U-boat Types - uboat.net. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2026.
- ↑ Kemp (1990), tr. 22, 26.
- ↑ Akermann (2002), tr. 27.
- 1 2 3 Mason, Lt Cdr Geoffrey B. (ngày 30 tháng 11 năm 2010). "HMS Telemachus – T-class Submarine". Naval History. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2026.
- 1 2 3 4 5 Helgason, Guðmundur. "HMS Telemachus (P 321) – Submarine of the T Class". Allied Warships - uboat.net. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2025.
- ↑ "R.N. Submarines to be Based at Sydney". The Times. Số 51497. UK. ngày 27 tháng 9 năm 1949. tr. 4.
- ↑ "British Submarines for Australia". The Times. Số 51498. UK. ngày 28 tháng 9 năm 1949. tr. 3.
- ↑ "Telemachus Returns Home After Ten Years 'Down Under'". Navy News. tháng 1 năm 1960. tr. 8.
- ↑ "HMAS Anzac (II)". Royal Australian Navy. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2012.
- ↑ Headland (1989), tr. 363.
- ↑ "30,000 Feet Under the Sea: Gravity Survey by Submarine". The Times. Số 53628. UK. ngày 5 tháng 9 năm 1956. tr. 7.
- ↑ "Submarine Missing for Two and a Half Hours". The Times. Số 53548. UK. ngày 4 tháng 6 năm 1956. tr. 8.
- ↑ "News in Brief". The Times. Số 54640. UK. ngày 10 tháng 10 năm 1959. tr. 8.
Thư mục
- Akermann, Paul (2002). Encyclopaedia of British Submarines 1901–1955 . Penzance, Cornwall: Periscope Publishing. ISBN 1-904381-05-7.
- Bagnasco, Erminio (1977). Submarines of World War Two. Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 0-87021-962-6.
- Boyd, Carl; Yoshida, Akihiko (1995). The Japanese submarine force and World War II. Annapolis, MD: Naval Institute Press. ISBN 978-1-55750-080-9.
- Chesneau, Roger, biên tập (1980). Conway's All the World's Fighting Ships 1922–1946. Greenwich, UK: Conway Maritime Press. ISBN 0-85177-146-7.
- Colledge, J. J.; Warlow, Ben (1969). Ships of the Royal Navy: the complete record of all fighting ships of the Royal Navy (Rev. ed.). London: Chatham. ISBN 978-1-86176-281-8. OCLC 67375475.
- Headland, Robert (1989). Chronological List of Antarctic Expeditions and Related Events. Cambridge, UK; New York: Cambridge University Press. ISBN 978-0-521-30903-5.
- Hutchinson, Robert (2001). Jane's Submarines: War Beneath the Waves from 1776 to the Present Day. London: HarperCollins. ISBN 978-0-00-710558-8. OCLC 53783010.
- Kemp, Paul J. (1990). The T-class Submarine: The Classic British Design. Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 1-55750-826-7. OCLC 22575300.
- McCartney, Innes (2006). British Submarines 1939–1945. New Vanguard. Quyển 129. Oxford, UK: Osprey. ISBN 1-84603-007-2.
- Miller, Vernon J. (1986). Analysis of Japanese Submarine Losses to Allied Submarines in World War II. Bennington, VT: Weapons and Warfare Press. ISBN 9781576381618. OCLC 15059262.
- O'Connell, John F. (2010). Submarine Operational Effectiveness in the 20th Century. New York: Iuniverse. ISBN 978-1-4502-3689-8.
- Rohwer, Jürgen (2005). Chronology of the War at Sea 1939–1945: The Naval History of World War Two . Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 1-59114-119-2.
Liên kết ngoài
- Helgason, Guðmundur. "T class – Technical information". U-boat Types - uboat.net. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2026.
- Mason, Lt Cdr Geoffrey B. (ngày 30 tháng 11 năm 2010). "HMS Telemachus – T-class Submarine". Naval History. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2026.
- Helgason, Guðmundur. "HMS Telemachus (P 321) – Submarine of the T Class". Allied Warships - uboat.net. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2025.