Bước tới nội dung

HMS Tapir (P335)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Tàu ngầm HMS Taciturn (P334), một chiếc lớp T Nhóm III tiêu biểu
Lịch sử
Anh Quốc
Tên gọiHMS Tapir (P335)
Đặt tên theolợn vòi
Đặt hàng20 tháng 12, 1941
Xưởng đóng tàuVickers-Armstrongs, Barrow-in-Furness
Đặt lườn29 tháng 3, 1943
Hạ thủy21 tháng 8, 1944
Nhập biên chế30 tháng 12, 1944
Tái biên chế16 tháng 12, 1953
Số phận
Hà Lan
Tên gọiHNLMS Zeehond (P335)
Đặt tên theohải cẩu
Nhập biên chế12 tháng 7, 1948
Xuất biên chế15 tháng 7, 1953
Số phậnHoàn trả cho Anh, 1953
Đặc điểm khái quát
Lớp tàulớp T
Kiểu tàutàu ngầm diesel-điện
Trọng tải choán nước
Chiều dài276 ft 6 in (84,3 m)[1]
Sườn ngang25 ft 6 in (7,8 m)
Mớn nước
  • 12 ft 9 in (3,89 m) (phía mũi)
  • 14 ft 7 in (4,45 m) (phía đuôi)
Động cơ đẩy
Tốc độ
Tầm xa8.000 nmi (15.000 km; 9.200 mi) ở tốc độ 10 kn (19 km/h; 12 mph)
Tầm hoạt động131 tấn nhiên liệu
Độ sâu thử nghiệm300 ft (91 m)[2]
Thủy thủ đoàn tối đa59[1]
Vũ khí
  • 11 × ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm) [1]
    • 6 × phía mũi
    • 5 × bên ngoài
    • 17 × ngư lôi
  • 1 × hải pháo QF 4 inch (101,6 mm) Mk XII [1]
  • 3 × súng máy .303-calibre[1]

HMS Tapir (P335) là một tàu ngầm lớp T thuộc Nhóm III, được Hải quân Hoàng gia Anh chế tạo trong Chương trình Chế tạo 1941 trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nhập biên chế vào cuối năm 1944, con tàu chỉ thực hiện một chuyến tuần tra duy nhất trong chiến tranh nhưng đã đánh chìm được một tàu ngầm U-boat Đức tải trọng 769 tấn. Tapir được điều sang hoạt động tại Viễn Đông, nhưng cuộc xung đột kết thúc ngay sau đó. Nó quay trở về Anh và được đưa về thành phần dự bị, rồi được chuyển cho Hải quân Hoàng gia Hà Lan để hoạt động như là chiếc HNLMS Zeehond (P335) từ năm 1948 đến năm 1953. Con tàu được hoàn trả cho Anh và bị bán để tháo dỡ vào năm 1966.

Thiết kế và chế tạo

Thiết kế

Sơ đồ ngang và đứng của một tàu ngầm lớp T Nhóm III tiêu biểu

Lớp tàu ngầm T được thiết kế nhằm mục đích thay thế cho các các lớp Odin, ParthianRainbow. Chúng có trọng lượng choán nước 1.090 tấn Anh (1.107 t) khi nổi và 1.575 tấn Anh (1.600 t) khi lặn, lườn tàu có chiều dài chung 276 ft 6 in (84,28 m), mạn tàu rộng 26 ft 6 in (8,08 m) và mớn nước sâu 14 ft 7 in (4,45 m). Thủy thủ đoàn đầy đủ bao gồm 59 sĩ quan và thủy thủ, và con tàu có thể lặn sâu đến 300 ft (91 m).[1]

Tàu ngầm lớp T được trang bị hai động cơ diesel có tổng công suất 2.500 mã lực phanh (1.864 kW), mỗi chiếc vận hành một trục chân vịt. Khi lặn, mỗi trục được vận hành bởi một động cơ điện công suất 725 mã lực (541 kW). Khi di chuyển trên mặt nước nó đạt tốc độ tối đa 15,25 hải lý trên giờ (28,24 km/h; 17,55 mph)9 hải lý trên giờ (17 km/h; 10 mph) khi lặn dưới nước. Chúng có tầm xa hoạt động đến 8.000 hải lý (15.000 km; 9.200 mi) ở tốc độ 10 hải lý trên giờ (19 km/h; 12 mph).[1]

Tapir trang bị mười một ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm), gồm sáu ống bên trong và năm ống bên ngoài, với tám ống ra phía trước và ba ống còn lại hướng ra phía đuôi, và mang theo tổng cộng 17 quả ngư lôi. Vũ khí trên boong tàu là một khẩu hải pháo QF 4 inch (101,6 mm) Mk XII cùng ba khẩu súng máy .303-calibre cho mục đích phòng không.[1]

Chế tạo

Tapir được đặt hàng vào ngày 20 tháng 12, 1941 trong khuôn khổ Chương trình Chế tạo 1941, và được đặt lườn tại xưởng tàu của hãng Vickers-Armstrongs ở Barrow-in-Furness vào ngày 29 tháng 3, 1943. Nó được hạ thủy vào ngày 21 tháng 8, 1944, và nhập biên chế cùng Hải quân Hoàng gia vào ngày 30 tháng 12, 1944 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Đại úy Hải quân John C. Y. Roxburgh.[3][4] Nó là chiếc tàu chiến duy nhất của Hải quân Hoàng gia Anh được đặt cái tên này.[3]

Lịch sử hoạt động

HMS Tapir

Sau khi hoàn tất việc chạy thử máy và huấn luyện tại các vùng biển Anh và Scotland, Tapir xuất phát từ cảng Lerwick vào ngày 5 tháng 4, 1945 cho chuyến tuần tra duy nhất trong chiến tranh. Nó đã hoạt động tại Bắc Hải dọc bờ biển Na Uy. Vào ngày 12 tháng 4, ở vị trí về phía Tây Bắc Bergen, nó phát hiện một tàu ngầm U-boat qua sonar, và đã phóng sáu quả ngư lôi tấn công, đánh chìm U-486 tại tọa độ 60°44′B 04°39′Đ / 60,733°B 4,65°Đ / 60.733; 4.650.[3] Tapir kết thúc chuyến tuần tra và quay trở về Lerwick vào ngày 16 tháng 4.[4]

Tapir sau đó rời cảng Holy Loch vào ngày 6 tháng 5 do được điều động sang phục vụ tại Viễn Đông. Sau khi đã lần lượt đi ngang qua Gibraltar, Malta, Port Said, kênh đào Suez, AdenTrincomalee, nó đi đến Fremantle Australia vào ngày 1 tháng 8.[3]

Chiếc tàu ngầm vẫn đang trong giai đoạn được bảo trì, sửa chữa và chuẩn bị cho chuyến tuần tra tiếp theo, khi Đế quốc Nhật Bản chấp nhận đầu hàng giúp kết thúc cuộc xung đột. Nó tiếp tục ở lại vùng biển phía Tây Australia để viếng thăm các cảng tại đây trước khi quay trở về Anh.[4]

HNLMS Zeehond

HNLMS Zeehond vào năm 1953

Được xem là dư thừa đối với nhu cầu của Hải quân Anh, chiếc tàu ngầm được chuyển cho Hải quân Hoàng gia Hà Lan mượn trong thời hạn năm năm vào ngày 18 tháng 6, 1948, và nhập biên chế như là chiếc HNLMS Zeehond (P335)[Ghi chú 1] vào ngày 12 tháng 7, 1948.[4]

Nó đã cùng với tàu ngầm HNLMS O24 và tàu sà lúp HNLMS Van Kinsbergen viếng thăm Curaçao vào năm 1949. Zeehond đã tiến hành đo đạc trọng lực trong chuyến đi này, trở thành tàu ngầm Hà Lan đầu tiên thực hiện việc này sau chiến tranh, cũng như đi một quãng đường dài ngầm dưới nước sử dụng ống hơi trong chặng quay trở về.[5]

Sau thời hạn năm năm, chiếc tàu ngầm được hoàn trả cho Anh vào ngày 15 tháng 7, 1953 và tái biên chế cùng Hải quân Hoàng gia với tên gọi ban đầu HMS Tapir vào ngày 16 tháng 12, 1953.[6] Con tàu cuối cùng bị đá tháo dỡ tại Faslane vào tháng 12, 1966.[4]

Tóm tắt chiến công

Tapir đã đánh chìm được một tàu chiến tải trọng 6.040 GRT.

NgàyTên tàuQuốc tịchTải trọng[Ghi chú 2]Số phận
12 tháng 4, 1945U-486 Hải quân Đức Quốc xã769Bị đánh chìm

Tham khảo

Ghi chú

  1. Zeehond (tiếng Hà Lan): hải cẩu
  2. Tàu buôn theo tấn đăng ký toàn phần. Tàu quân sự theo trọng lượng choán nước.

Chú thích

  1. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 Helgason, Guðmundur. "T class – Technical information". U-boat Types - uboat.net. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2026.
  2. Kemp (1990), tr. 22, 26.
  3. 1 2 3 4 Mason, Lt Cdr Geoffrey B. (ngày 30 tháng 11 năm 2010). "HMS Tapir – T-class Submarine". Naval History. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2026.
  4. 1 2 3 4 5 Helgason, Guðmundur. "HMS Tapir (P 335) – Submarine of the T Class". Allied Warships - uboat.net. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2025.
  5. van Herwijnen, C. (tháng 12 năm 1998). "De snuiver (deel III)" (PDF). Klaar Voor Onderwater (bằng tiếng Dutch). Số 66. Den Helder: Onderzeedienst Reünistenvereniging. tr. 6–8.{{Chú thích tạp chí}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  6. "HNLMS Zeehond (2)". dutchsubmarines.com. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2025.

Thư mục

Liên kết ngoài