HMS Tetrarch (N77)
Tàu ngầm HMS Tetrarch tại Blyth, năm 1940 | |
| Lịch sử | |
|---|---|
| Tên gọi | HMS Tetrarch (N77) |
| Đặt hàng | 6 tháng 5, 1938 |
| Xưởng đóng tàu | Vickers-Armstrongs, Barrow-in-Furness |
| Đặt lườn | 24 tháng 8, 1938 |
| Hạ thủy | 14 tháng 11, 1939 |
| Nhập biên chế | 15 tháng 2, 1940 |
| Số phận | Mất tích, tháng 10, 1941 |
| Đặc điểm khái quát | |
| Lớp tàu | lớp T |
| Kiểu tàu | tàu ngầm diesel-điện |
| Trọng tải choán nước | |
| Chiều dài | 276 ft 6 in (84,3 m)[1] |
| Sườn ngang | 25 ft 6 in (7,8 m) |
| Mớn nước |
|
| Động cơ đẩy |
|
| Tốc độ |
|
| Tầm xa | 8.000 nmi (15.000 km; 9.200 mi) ở tốc độ 10 kn (19 km/h; 12 mph) |
| Tầm hoạt động | 131 tấn nhiên liệu |
| Độ sâu thử nghiệm | 300 ft (91 m)[2] |
| Thủy thủ đoàn tối đa | 59[1] |
| Vũ khí | |
HMS Tetrarch (N77) là một tàu ngầm lớp T thuộc Nhóm I, được Hải quân Hoàng gia Anh chế tạo trong Chương trình Chế tạo 1938 ngay trước Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nhập biên chế năm 1940, Tetrarch đã hoạt động tại các khu vực Bắc Hải và Địa Trung Hải, thực hiện được mười bảy chuyến tuần tra, đánh chìm hay gây tổn thất toàn bộ cho chín tàu buôn có tổng tải trọng 16.771 GRT cùng một tàu chiến phụ trợ 330 GRT, đồng thời gây hư hại cho hai tàu buôn có tổng tải trọng 3.779 GRT. Tetrarch bị mất tích trong hành trình từ Malta sang Gibraltar, rất có thể do trúng thủy lôi ngoài khơi đảo Sicilia, Ý, vào cuối tháng 10 hoặc đầu tháng 11, 1941.
Thiết kế và chế tạo
Thiết kế

Lớp tàu ngầm T được thiết kế nhằm mục đích thay thế cho các các lớp Odin, Parthian và Rainbow. Chúng có trọng lượng choán nước 1.090 tấn Anh (1.107 t) khi nổi và 1.575 tấn Anh (1.600 t) khi lặn, lườn tàu có chiều dài chung 276 ft 6 in (84,28 m), mạn tàu rộng 26 ft 6 in (8,08 m) và mớn nước sâu 14 ft 7 in (4,45 m). Thủy thủ đoàn đầy đủ bao gồm 59 sĩ quan và thủy thủ, và con tàu có thể lặn sâu đến 300 ft (91 m).[1]
Tàu ngầm lớp T được trang bị hai động cơ diesel có tổng công suất 2.500 mã lực phanh (1.864 kW), mỗi chiếc vận hành một trục chân vịt. Khi lặn, mỗi trục được vận hành bởi một động cơ điện công suất 725 mã lực (541 kW). Khi di chuyển trên mặt nước nó đạt tốc độ tối đa 15,25 hải lý trên giờ (28,24 km/h; 17,55 mph) và 9 hải lý trên giờ (17 km/h; 10 mph) khi lặn dưới nước. Chúng có tầm xa hoạt động đến 8.000 hải lý (15.000 km; 9.200 mi) ở tốc độ 10 hải lý trên giờ (19 km/h; 12 mph).[1]
Tetrarch trang bị mười ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm), gồm sáu ống bên trong và bốn ống bên ngoài, tất cả đều hướng ra phía trước, và mang theo tổng cộng 16 quả ngư lôi. Vũ khí trên boong tàu là một khẩu hải pháo QF 4 inch (101,6 mm) Mk XII cùng ba khẩu súng máy .303-calibre cho mục đích phòng không.[1]
Chế tạo
Tetrarch được đặt hàng vào ngày 6 tháng 5, 1938 trong khuôn khổ Chương trình Chế tạo 1938, và được đặt lườn tại xưởng tàu của hãng Vickers-Armstrongs ở Barrow vào ngày 24 tháng 8, 1938. Nó được hạ thủy vào ngày 14 tháng 11, 1939, và nhập biên chế cùng Hải quân Hoàng gia vào ngày 15 tháng 2, 1940.[3][4] Nó là chiếc tàu chiến thứ hai của Hải quân Hoàng gia Anh được đặt cái tên này.[3]
Lịch sử hoạt động
1940
Chuyến tuần tra thứ nhất
Sau khi hoàn tất việc chạy thử máy và huấn luyện tại các vùng biển Scotland và Anh, Tetrarch di chuyển đến Rosyth, rồi xuất phát từ đây vào ngày 14 tháng 4 cho chuyến tuần tra đầu tiên trong chiến tranh. Nó đã hoạt động tại vùng biển Skagerrak ngoài khơi bờ biển phía Nam Na Uy. Tại đây vào ngày 23 tháng 4, nó phóng ngư lôi tấn công một đoàn tàu vận tải Đức, và đã đánh chìm chiếc tàu săn ngầm phụ trợ Đức UJ B / Treff V 330 GRT tại tọa độ 58°21′B 10°24′Đ / 58,35°B 10,4°Đ. Nó kết thúc chuyến tuần tra và quay trở về Rosyth vào ngày 28 tháng 4.[4]
1941
Bị mất tích
Được điều động quay trở về Anh để đại tu, Tetrach rời Malta vào ngày 26 tháng 10 để đi sang Gibraltar, dự định sẽ đến nơi vào ngày 2 tháng 11. Trên đường đi vào ngày hôm sau 27 tháng 10, nó liên lạc lần cuối cùng với tàu ngầm HMS Ultimatum, nhưng sau đó hoàn toàn mất liên lạc và không đi đến Gibraltar như hạn định. Tetrach được cho là đã mất mà không rõ nguyên nhăn với tổn thất toàn bộ thành viên thủy thủ đoàn, có thể do trúng thủy lôi ngoài khơi mũi Granditola, Sicilia vào cuối tháng 10, 1941.[3][4][5]
Tóm tắt chiến công
Tetrarch đã đánh chìm hay gây tổn thất toàn bộ cho chín tàu buôn có tổng tải trọng 16.771 GRT cùng một tàu chiến phụ trợ 330 GRT, đồng thời gây hư hại cho hai tàu buôn có tổng tải trọng 3.779 GRT.[4]
| Ngày | Tên tàu | Quốc tịch | Tải trọng[Ghi chú 1] | Số phận |
|---|---|---|---|---|
| 23 tháng 4, 1940 | UJ B / Treff V | 330 | Bị đánh chìm | |
| 23 tháng 5, 1940 | L61 / Terje Vieken | 28 | Bị hư hại | |
| 23 tháng 5, 1940 | L100 / Immanuel | - | Bị chiếm | |
| 16 tháng 6, 1940 | Samland | 5.978 | Bị đánh chìm | |
| 4 tháng 11, 1940 | Snia Amba | 2.532 | Tổn thất toàn bộ | |
| 12 tháng 4, 1941 | Persiano | 2.474 | Bị đánh chìm | |
| 18 tháng 5, 1941 | Giovinezza | 2.362 | Bị đánh chìm | |
| 27 tháng 7, 1941 | Kal 123 / Nikitas | 40 | Bị đánh chìm | |
| 23 tháng 8, 1941 | V 72 / Fratelli Garre | 413 | Bị đánh chìm | |
| 24 tháng 8, 1941 | V 113 / Francesco Garre | 399 | Bị đánh chìm | |
| 27 tháng 9, 1941 | Citta di Bastia | 2.499 | Bị đánh chìm | |
| 27 tháng 9, 1941 | CH 48 / Poisedon | 74 | Bị đánh chìm | |
| 28 tháng 9, 1941 | Yalova | 3.751 | Bị hư hại |
Xem thêm
Tham khảo
Ghi chú
- ↑ Tàu buôn theo tấn đăng ký toàn phần. Tàu quân sự theo trọng lượng choán nước.
Chú thích
- 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 Helgason, Guðmundur. "T class – Technical information". U-boat Types - uboat.net. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2026.
- ↑ Kemp (1990), tr. 22, 26.
- 1 2 3 Mason, Lt Cdr Geoffrey B. (ngày 28 tháng 11 năm 2010). "HMS Tetrarch – T-class Submarine". Naval History (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2026.
- 1 2 3 4 Helgason, Guðmundur. "HMS Tetrarch (N 77) – Submarine of the T Class". Allied Warships - uboat.net. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2025.
- ↑ "Submarine losses 1904 to present day". RN Submarine Museum, Gosport. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2007.
Thư mục
- Akermann, Paul (2002). Encyclopaedia of British Submarines 1901–1955 . Penzance, Cornwall: Periscope Publishing. ISBN 1-904381-05-7.
- Bagnasco, Erminio (1977). Submarines of World War Two. Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 0-87021-962-6.
- Caruana, Joseph (2012). "Emergency Victualling of Malta During WWII". Warship International. Quyển LXIX số 4. tr. 357–364. ISSN 0043-0374.
- Chesneau, Roger, biên tập (1980). Conway's All the World's Fighting Ships 1922–1946. Greenwich, UK: Conway Maritime Press. ISBN 0-85177-146-7.
- Colledge, J. J.; Warlow, Ben (1969). Ships of the Royal Navy: the complete record of all fighting ships of the Royal Navy (Rev. ed.). London: Chatham. ISBN 978-1-86176-281-8. OCLC 67375475.
- Kemp, Paul J. (1990). The T-class Submarine: The Classic British Design. Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 1-55750-826-7. OCLC 22575300.
- McCartney, Innes (2006). British Submarines 1939–1945. New Vanguard. Quyển 129. Oxford, UK: Osprey. ISBN 1-84603-007-2.
- Rohwer, Jürgen (2005). Chronology of the War at Sea 1939–1945: The Naval History of World War Two . Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 1-59114-119-2.
Liên kết ngoài
- Helgason, Guðmundur. "T class – Technical information". U-boat Types - uboat.net. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2026.
- Mason, Lt Cdr Geoffrey B. (ngày 28 tháng 11 năm 2010). "HMS Tetrarch – T-class Submarine". Naval History. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2026.
- Helgason, Guðmundur. "HMS Tetrarch (N 77) – Submarine of the T Class". Allied Warships - uboat.net. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2025.
- Interview with Ronald Mills, who commanded HMS Tetrarch from 1940 to 1941
- Lớp tàu ngầm Anh T
- Tàu ngầm của Hải quân Hoàng gia Anh trong Thế Chiến II
- Tàu ngầm bị mất tích
- Tàu ngầm bị đánh chìm bởi thủy lôi
- Xác tàu đắm trong Thế Chiến II tại Địa Trung Hải
- Sự cố hàng hải năm 1941
- Tàu thủy năm 1939