Bước tới nội dung

HMS Terrapin (P323)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Tàu ngầm HMS Terrapin (P323) tại Barrow, ngày 19 tháng 1 năm 1944
Lịch sử
Anh Quốc
Tên gọiHMS Terrapin (P323)
Đặt tên theorùa đầm
Đặt hàng3 tháng 8, 1941
Xưởng đóng tàuVickers-Armstrongs, Barrow-in-Furness
Đặt lườn19 tháng 10, 1942
Hạ thủy31 tháng 8, 1943
Nhập biên chế22 tháng 1, 1944
Số phận
Đặc điểm khái quát
Lớp tàulớp T
Kiểu tàutàu ngầm diesel-điện
Trọng tải choán nước
Chiều dài276 ft 6 in (84,3 m)[1]
Sườn ngang25 ft 6 in (7,8 m)
Mớn nước
  • 12 ft 9 in (3,89 m) (phía mũi)
  • 14 ft 7 in (4,45 m) (phía đuôi)
Động cơ đẩy
Tốc độ
Tầm xa8.000 nmi (15.000 km; 9.200 mi) ở tốc độ 10 kn (19 km/h; 12 mph)
Tầm hoạt động131 tấn nhiên liệu
Độ sâu thử nghiệm300 ft (91 m)[2]
Thủy thủ đoàn tối đa59[1]
Vũ khí
  • 11 × ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm) [1]
    • 6 × phía mũi
    • 5 × bên ngoài
    • 17 × ngư lôi
  • 1 × hải pháo QF 4 inch (101,6 mm) Mk XII [1]
  • 3 × súng máy .303-calibre[1]

HMS Terrapin (P323)[Ghi chú 1] là một tàu ngầm lớp T thuộc Nhóm III, được Hải quân Hoàng gia Anh chế tạo trong Chương trình Chế tạo 1941 trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nhập biên chế năm 1944, con tàu đã thực hiện được bảy chuyến tuần tra, hầu hết tại khu vực Viễn Đông, đánh chìm được một tàu buôn, một tàu chiến và hai tàu chiến phụ trợ có tổng tải trọng 839 GRT và 291 tấn, đồng thời gây hư hại cho hai tàu buôn có tổng tải trọng 14.442 GRT. Terrapin bị hư hại nặng do trúng mìn sâu thả từ tàu đối phương trong biển Java vào tháng 5, 1945, nhưng được hộ tống quay trở về căn cứ an toàn. Tuy nhiên nó được xem là một tổn thất toàn bộ, và bị tháo dỡ vào tháng 6, 1946.

Thiết kế và chế tạo

Thiết kế

Sơ đồ ngang và đứng của một tàu ngầm lớp T Nhóm III tiêu biểu

Lớp tàu ngầm T được thiết kế nhằm mục đích thay thế cho các các lớp Odin, ParthianRainbow. Chúng có trọng lượng choán nước 1.090 tấn Anh (1.107 t) khi nổi và 1.575 tấn Anh (1.600 t) khi lặn, lườn tàu có chiều dài chung 276 ft 6 in (84,28 m), mạn tàu rộng 26 ft 6 in (8,08 m) và mớn nước sâu 14 ft 7 in (4,45 m). Thủy thủ đoàn đầy đủ bao gồm 59 sĩ quan và thủy thủ, và con tàu có thể lặn sâu đến 300 ft (91 m).[1]

Tàu ngầm lớp T được trang bị hai động cơ diesel có tổng công suất 2.500 mã lực phanh (1.864 kW), mỗi chiếc vận hành một trục chân vịt. Khi lặn, mỗi trục được vận hành bởi một động cơ điện công suất 725 mã lực (541 kW). Khi di chuyển trên mặt nước nó đạt tốc độ tối đa 15,25 hải lý trên giờ (28,24 km/h; 17,55 mph)9 hải lý trên giờ (17 km/h; 10 mph) khi lặn dưới nước. Chúng có tầm xa hoạt động đến 8.000 hải lý (15.000 km; 9.200 mi) ở tốc độ 10 hải lý trên giờ (19 km/h; 12 mph).[1]

Terrapin trang bị mười một ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm), gồm sáu ống bên trong và năm ống bên ngoài, với tám ống ra phía trước và ba ống còn lại hướng ra phía đuôi, và mang theo tổng cộng 17 quả ngư lôi. Vũ khí trên boong tàu là một khẩu hải pháo QF 4 inch (101,6 mm) Mk XII cùng ba khẩu súng máy .303-calibre cho mục đích phòng không.[1]

Chế tạo

Terrapin được đặt hàng vào ngày 3 tháng 8, 1941 trong khuôn khổ Chương trình Chế tạo 1941, và được đặt lườn tại xưởng tàu của hãng Vickers-Armstrongs ở Barrow-in-Furness vào ngày 19 tháng 10, 1942. Nó được hạ thủy vào ngày 31 tháng 8, 1943, và nhập biên chế cùng Hải quân Hoàng gia vào ngày 22 tháng 1, 1944 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Đại úy Hải quân Desmond S. R. Martin.[3][4] Nó là chiếc tàu chiến duy nhất của Hải quân Hoàng gia Anh được đặt cái tên này.[3]

Lịch sử hoạt động

1944

Chuyến tuần tra thứ nhất

Sau khi thực hành huấn luyện tại các vùng biển Anh và Scotland, Terrapin xuất phát từ cảng Holy Loch vào ngày 16 tháng 3, 1944 cho chuyến tuần tra đầu tiên trong chiến tranh. Nó đã hoạt động tại khu vực Bắc Hải về phía Đông Nam Na Uy để tìm cách ngăn chặn chiếc thiết giáp hạm Đức Tirpitz, được cho là đang tìm cách quay trở về Đức để sửa chữa. Vào ngày 24 tháng 3, nó phóng ngư lôi tấn công một đoàn tàu vận tải Đức ở vùng biển ngoài khơi Flekkefjord, Na Uy, gây hư hại cho các tàu buôn trang bị máy phóng Đức Schwabenland 8.186 GRTtàu chở dầu Đức Wörth 6.256 GRT. Chiếc tàu ngầm kết thúc chuyến tuần tra và quay trở về cảng Lerwick vào ngày 2 tháng 4.[4]

Sau đó Terrapin khởi hành từ Holy Loch vào ngày 30 tháng 4 để di chuyển sang Gibraltar do được điều động sang phục vụ tại Viễn Đông. Sau khi lần lượt đi ngang qua Malta, Port Said, kênh đào SuezAden, nó đi đến Colombo, Ceylon (nay là Sri Lanka) vào ngày 23 tháng 6. Chiếc tàu ngầm được sửa chữa trong ụ tàu tại Colombo trước khi đi đến Trincomalee, Ceylon vào ngày 16 tháng 7.[3][4]

1945

Chuyến tuần tra thứ bảy – Bị hư hại

Terrapin xuất phát từ Fremantle vào ngày 3 tháng 5 cho chuyến tuần tra thứ bảy, cũng là chuyến cuối cùng, và đã hoạt động tại khu vực biển Java. Vào ngày 15 tháng 5, nó bị mắc cạn tại vùng biển ngoài khơi đá Arnemuiden, nhưng tự thoát ra được hai giờ sau đó, sau khi đã phóng bỏ hai quả ngư lôi và đổ bỏ bớt nhiên liệu.[3] Đến ngày 17 tháng 5, nó đánh chìm hai thuyền buồm bằng hải pháo và chất nổ ở khu vực phía Tây biển Java.[4]

Vào ngày 19 tháng 5 ở vị trí về phía Tây Batavia, Đông Ấn thuộc Hà Lan, Terrapin phóng ba quả ngư lôi tấn công một tàu chở dầu nhưng không trúng đích, và sau đó bị các tàu hộ tống thả mìn sâu phản công, nhiều quả kích nổ gần tàu khiến chiếc tàu ngầm bị hư hại nặng, bao gồm thiết bị vô tuyến, sonar, kính tiềm vọng, cũng như rò rỉ các thùng dằn và thùng chứa nhiên liệu. Chiếc tàu ngầm phải nằm im dưới đáy biển đợi cho đến chiều tối, trước khi trồi lên mặt biển và chạy thoát. Hai ngày sau đó, nó được tàu ngầm Hoa Kỳ USS Cavalla hộ tống vượt qua eo biển Lombok, và về đến Fremantle an toàn vào ngày 27 tháng 5.[3][4]

Do việc sửa chữa những hư hại đối với lườn áp lực không thể thực hiện tại khu vực Viễn Đông, Terrapin được cho quay trở về Anh để sửa chữa và đại tu. Nó rời Fremantle vào ngày 23 tháng 7, và sau hành trình lần lượt đi ngang qua Aden, kênh đào Suez, Port SaidGibraltar, nó về đến Portsmouth vào ngày 2 tháng 9.[4]

Sau khi được xem xét, Bộ Hải quân Anh kết luận những hư hại mà Terrapin chịu đựng không thể sửa chữa có hiệu quả kinh tế. Vì vậy con tàu bị bán để tháo dỡ vào tháng 6, 1946.[3][4]

Tóm tắt chiến công

Terrapin đã đánh chìm được một tàu buôn, một tàu chiến và hai tàu chiến phụ trợ có tổng tải trọng 839 GRT và 291 tấn, đồng thời gây hư hại cho hai tàu buôn có tổng tải trọng 14.442 GRT.[4]

NgàyTên tàuQuốc tịchTải trọng[Ghi chú 2]Số phận
24 tháng 3, 1944Schwabenland Đức Quốc xã8.186Bị hư hại
24 tháng 3, 1944Wörth Đức Quốc xã6.256Bị hư hại
4 tháng 11, 1944W 5 Hải quân Nhật Bản620Bị đánh chìm
22 tháng 12, 1944Sakura Maru Nhật Bản-Bị đánh chìm
25 tháng 12, 1944Reisui Maru Hải quân Nhật Bản219Bị đánh chìm
4 tháng 3, 1945Ch 8 Hải quân Nhật Bản291Bị đánh chìm (*)

(*): chiến công chia sẻ cùng tàu ngầm chị em HMS Trenchant

Tham khảo

Ghi chú

  1. Tên được đặt theo Terrapin, tên tiếng Anh của loài rùa đầm.
  2. Tàu buôn theo tấn đăng ký toàn phần. Tàu quân sự theo trọng lượng choán nước.

Chú thích

  1. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 Helgason, Guðmundur. "T class – Technical information". U-boat Types - uboat.net. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2026.
  2. Kemp (1990), tr. 22, 26.
  3. 1 2 3 4 5 6 Mason, Lt Cdr Geoffrey B. (ngày 30 tháng 11 năm 2010). "HMS Terrapin – T-class Submarine". Naval History. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2026.
  4. 1 2 3 4 5 6 7 8 Helgason, Guðmundur. "HMS Terrapin (P 323) – Submarine of the T Class". Allied Warships - uboat.net. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2025.

Thư mục

Liên kết ngoài