HMS Trenchant (P331)
Tàu ngầm HMS Trenchant (P331) tại Medway, 5 tháng 2 năm 1944 | |
| Lịch sử | |
|---|---|
| Tên gọi | HMS Trenchant (P331) |
| Đặt hàng | 25 tháng 8, 1941 |
| Xưởng đóng tàu | Xưởng tàu Chatham |
| Đặt lườn | 9 tháng 5, 1942 |
| Hạ thủy | 24 tháng 3, 1943 |
| Nhập biên chế | 26 tháng 2, 1944 |
| Tái biên chế | 1949 |
| Xuất biên chế | list error: <br /> list (help) 1946 1959 |
| Số phận | Bán để tháo dỡ, 1 tháng 7, 1963 |
| Đặc điểm khái quát | |
| Lớp tàu | lớp T |
| Kiểu tàu | tàu ngầm diesel-điện |
| Trọng tải choán nước | |
| Chiều dài | 276 ft 6 in (84,3 m)[1] |
| Sườn ngang | 25 ft 6 in (7,8 m) |
| Mớn nước |
|
| Động cơ đẩy |
|
| Tốc độ |
|
| Tầm xa | 8.000 nmi (15.000 km; 9.200 mi) ở tốc độ 10 kn (19 km/h; 12 mph) |
| Tầm hoạt động | 131 tấn nhiên liệu |
| Độ sâu thử nghiệm | 300 ft (91 m)[2] |
| Thủy thủ đoàn tối đa | 59[1] |
| Vũ khí | |
HMS Trenchant (P331) là một tàu ngầm lớp T thuộc Nhóm III, được Hải quân Hoàng gia Anh chế tạo trong Chương trình Chế tạo 1941 trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nhập biên chế năm 1944, con tàu đã thực hiện được bảy chuyến tuần tra tại khu vực Viễn Đông, đánh chìm được bốn tàu chiến có tổng tải trọng 15.376 tấn cùng hai tàu buôn và một tàu chiến phụ trợ có tổng tải trọng 3.033 GRT cùng nhiều thuyền buồm, tàu kéo, sà lan và tàu duyên hải nhỏ khác. Trenchant sống sót qua cuộc xung đột và tiếp tục phục vụ trong giai đoạn Chiến tranh Lạnh, cho đến khi được đưa về thành phần dự bị vào năm 1959 và bị bán để tháo dỡ vào năm 1963.
Thiết kế và chế tạo
Thiết kế

Lớp tàu ngầm T được thiết kế nhằm mục đích thay thế cho các các lớp Odin, Parthian và Rainbow. Chúng có trọng lượng choán nước 1.090 tấn Anh (1.107 t) khi nổi và 1.575 tấn Anh (1.600 t) khi lặn, lườn tàu có chiều dài chung 276 ft 6 in (84,28 m), mạn tàu rộng 26 ft 6 in (8,08 m) và mớn nước sâu 14 ft 7 in (4,45 m). Thủy thủ đoàn đầy đủ bao gồm 59 sĩ quan và thủy thủ, và con tàu có thể lặn sâu đến 300 ft (91 m).[1]
Tàu ngầm lớp T được trang bị hai động cơ diesel có tổng công suất 2.500 mã lực phanh (1.864 kW), mỗi chiếc vận hành một trục chân vịt. Khi lặn, mỗi trục được vận hành bởi một động cơ điện công suất 725 mã lực (541 kW). Khi di chuyển trên mặt nước nó đạt tốc độ tối đa 15,25 hải lý trên giờ (28,24 km/h; 17,55 mph) và 9 hải lý trên giờ (17 km/h; 10 mph) khi lặn dưới nước. Chúng có tầm xa hoạt động đến 8.000 hải lý (15.000 km; 9.200 mi) ở tốc độ 10 hải lý trên giờ (19 km/h; 12 mph).[1]
Trenchant trang bị mười một ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm), gồm sáu ống bên trong và năm ống bên ngoài, với tám ống ra phía trước và ba ống còn lại hướng ra phía đuôi, và mang theo tổng cộng 17 quả ngư lôi. Vũ khí trên boong tàu là một khẩu hải pháo QF 4 inch (101,6 mm) Mk XII cùng ba khẩu súng máy .303-calibre cho mục đích phòng không.[1]
Chế tạo
Trenchant được đặt hàng vào ngày 25 tháng 8, 1941 trong khuôn khổ Chương trình Chế tạo 1941, và được đặt lườn tại Xưởng tàu Chatham vào ngày 9 tháng 5, 1942. Nó được hạ thủy vào ngày 24 tháng 3, 1943, và nhập biên chế cùng Hải quân Hoàng gia vào ngày 31 tháng 1, 1944 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Thiếu tá Hải quân Arthurs R. Hezlet.[3][4] Nó là chiếc tàu chiến thứ hai của Hải quân Hoàng gia Anh được đặt cái tên này.[3]
Lịch sử hoạt động
1944
Vào lúc nhập biên chế, con tàu được vận hành bởi thủy thủ đoàn nguyên của tàu ngầm HMS Thrasher, vốn đang được lên lịch đại tu. Sau khi hoàn tất việc chạy thử máy và huấn luyện tại các vùng biển Anh và Scotland, Trenchant rời cảng Holy Loch vào ngày 14 tháng 4, 1944 để đi sang Gibraltar do được điều động sang phục vụ tại Viễn Đông. Sau hành trình dài lần lượt đi ngang qua Malta, Port Said, kênh đào Suez, Aden và Colombo, nó đi đến Trincomalee, Ceylon (nay là Sri Lanka) vào ngày 4 tháng 7.[3][4]
Chuyến tuần tra thứ nhất
Trenchant xuất phát từ cảng Trincomalee vào ngày 25 tháng 7 cho chuyến tuần tra đầu tiên trong chiến tranh, và đã hoạt động dọc theo bờ biển phía Tây của đảo Sumatra, Đông Ấn thuộc Hà Lan. Vào ngày 5 tháng 8, nó phóng ngư lôi tấn công một đoàn tàu vận tải đối phương nhưng không trúng đích. Đến ngày 9 tháng 8, nó đánh chìm một tàu duyên hải và một xuồng máy hộ tống bằng hải pháo về phía Tây Nam Sumatra, rồi trong hai ngày tiếp theo đã làm nhiệm vụ Chiến dịch Boomerang khi phục vụ như cột mốc dẫn đường cho hoạt động rải thủy lôi của máy bay ném bom B-29 Superfortress tại khu vực Palembang, cũng như tìmkiếm và giải cứu nếu cần thiết. Chiếc tàu ngầm kết thúc chuyến tuần tra khi quay trở về Trincomalee vào ngày 17 tháng 8.[4]
1945
Sau khi Đế quốc Nhật Bản chấp nhận đầu hàng giúp kết thúc cuộc xung đột, Trenchant rời cảng Fremantle vào ngày 21 tháng 9 để quay trở về Anh cho một đợt đại tu. Sau hành trình lần lượt đi ngang qua Aden, kênh đào Suez, Port Said, Alexandria, Malta và Gibraltar, nó về đến Portsmouth vào ngày 26 tháng 11, 1945.[4]
Sau chiến tranh
Trenchant tiếp tục phục vụ cùng Hải quân Hoàng gia Anh trong giai đoạn Chiến tranh Lạnh khi được cho tái biên chế vào năm 1949, và hoạt động trong thành phần Chi hạm đội Tàu ngầm 3 đặt căn cứ tại Rosyth. Nó được điều sang phục vụ tại Địa Trung Hải từ năm 1951, hoạt động cùng Chi hạm đội Tàu ngầm 1 đặt căn cứ tại Malta cho đến khi được đưa về thành phần dự bị vào năm 1959.[3]
Trenchant được đưa vào danh sách loại bỏ từ năm 1962, rồi được bán cho BISCO vào ngày 1 tháng 7, 1963, và bị tháo dỡ tại xưởng tàu Metal Industries tại Faslane.[4][3]
Tóm tắt chiến công
Trenchant đã đánh chìm được bốn tàu chiến có tổng tải trọng 15.376 tấn cùng hai tàu buôn và một tàu chiến phụ trợ có tổng tải trọng 3.033 GRT.[4]
| Ngày | Tên tàu | Quốc tịch | Tải trọng[Ghi chú 1] | Số phận |
|---|---|---|---|---|
| 23 tháng 9, 1944 | U-859 | 1.610 | Bị đánh chìm | |
| 25 tháng 12, 1944 | Reisui Maru | 219 | Bị đánh chìm (*) | |
| 23 tháng 1, 1945 | Hozan Maru số 1 | 868 | Bị đánh chìm (mìn) | |
| 23 tháng 1, 1945 | Nikkaku Maru | 1.946 | Bị đánh chìm (mìn) | |
| 4 tháng 3, 1945 | Ch 8 | 291 | Bị đánh chìm (*) | |
| 25 tháng 5, 1945 | Wa-105 | 175 | Bị đánh chìm | |
| 8 tháng 6, 1945 | Ashigara | 13.300 | Bị đánh chìm |
(*): chiến công chia sẻ cùng tàu ngầm chị em HMS Terrapin
Tham khảo
Ghi chú
- ↑ Tàu buôn theo tấn đăng ký toàn phần. Tàu quân sự theo trọng lượng choán nước.
Chú thích
- 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 Helgason, Guðmundur. "T class – Technical information". U-boat Types - uboat.net. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2026.
- ↑ Kemp (1990), tr. 22, 26.
- 1 2 3 4 5 Mason, Lt Cdr Geoffrey B. (ngày 30 tháng 11 năm 2010). "HMS Trentchant – T-class Submarine". Naval History. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2026.
- 1 2 3 4 5 6 Helgason, Guðmundur. "HMS Trenchant (P 331) – Submarine of the T Class". Allied Warships - uboat.net. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2025.
Thư mục
- Akermann, Paul (2002). Encyclopaedia of British Submarines 1901–1955 . Penzance, Cornwall: Periscope Publishing. ISBN 1-904381-05-7.
- Bagnasco, Erminio (1977). Submarines of World War Two. Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 0-87021-962-6.
- Chesneau, Roger, biên tập (1980). Conway's All the World's Fighting Ships 1922–1946. Greenwich, UK: Conway Maritime Press. ISBN 0-85177-146-7.
- Colledge, J. J.; Warlow, Ben (1969). Ships of the Royal Navy: the complete record of all fighting ships of the Royal Navy (Rev. ed.). London: Chatham. ISBN 978-1-86176-281-8. OCLC 67375475.
- Hutchinson, Robert (2001). Jane's Submarines: War Beneath the Waves from 1776 to the Present Day. London: HarperCollins. ISBN 978-0-00-710558-8. OCLC 53783010.
- Kemp, Paul J. (1990). The T-class Submarine: The Classic British Design. Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 1-55750-826-7. OCLC 22575300.
- McCartney, Innes (2006). British Submarines 1939–1945. New Vanguard. Quyển 129. Oxford, UK: Osprey. ISBN 1-84603-007-2.
- Rohwer, Jürgen (2005). Chronology of the War at Sea 1939–1945: The Naval History of World War Two . Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 1-59114-119-2.
Liên kết ngoài
- Helgason, Guðmundur. "T class – Technical information". U-boat Types - uboat.net. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2026.
- Mason, Lt Cdr Geoffrey B. (ngày 30 tháng 11 năm 2010). "HMS Trentchant – T-class Submarine". Naval History. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2026.
- Helgason, Guðmundur. "HMS Trenchant (P 331) – Submarine of the T Class". Allied Warships - uboat.net. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2025.</
- WPSHIPS:Bản mẫu có danh sách lỗi chờ sửa (bot)
- Lớp tàu ngầm Anh T
- Tàu ngầm của Hải quân Hoàng gia Anh trong Thế Chiến II
- Tàu ngầm của Hải quân Hoàng gia Anh trong Chiến tranh Lạnh
- Tàu thủy năm 1943