Bước tới nội dung

HMS Trident (N52)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Tàu ngầm HMS Trident
Lịch sử
Anh Quốc
Tên gọiHMS Trident (N52)
Đặt tên theođinh ba
Đặt hàng6 tháng 11, 1936
Xưởng đóng tàuCammell Laird, Birkenhead
Đặt lườn12 tháng 1, 1937
Hạ thủy7 tháng 12, 1938
Nhập biên chế1 tháng 10, 1939
Xuất biên chế20 tháng 11, 1945
Số phậnBán để tháo dỡ, 17 tháng 2, 1946
Đặc điểm khái quát
Lớp tàulớp T
Kiểu tàutàu ngầm diesel-điện
Trọng tải choán nước
Chiều dài276 ft 6 in (84,3 m)[1]
Sườn ngang25 ft 6 in (7,8 m)
Mớn nước
  • 12 ft 9 in (3,89 m) (phía mũi)
  • 14 ft 7 in (4,45 m) (phía đuôi)
Động cơ đẩy
Tốc độ
Tầm xa8.000 nmi (15.000 km; 9.200 mi) ở tốc độ 10 kn (19 km/h; 12 mph)
Tầm hoạt động131 tấn nhiên liệu
Độ sâu thử nghiệm300 ft (91 m)[2]
Thủy thủ đoàn tối đa59[1]
Vũ khí
  • 10 × ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm) [1]
    • 6 × phía mũi
    • 4 × bên ngoài
    • 16 × ngư lôi
  • 1 × hải pháo QF 4 inch (101,6 mm) Mk XII [1]
  • 3 × súng máy .303-calibre[1]

HMS Trident (N52) là một tàu ngầm lớp T thuộc Nhóm I, được Hải quân Hoàng gia Anh chế tạo trong Chương trình Chế tạo 1936 trước Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nhập biên chế năm 1939, Trident đã hoạt động tại các khu vực Bắc Đại Tây Dương, Địa Trung HảiViễn Đông, thực hiện tổng cộng ba mươi tám chuyến tuần tra, đánh chìm được bảy tàu buôn cùng một tàu chiến phụ trợ với tổng tải trọng 28.472 GRT, đồng thời gây hư hại cho ba tàu buôn có tổng tải trọng 13.415 GRT cùng một tàu chiến tải trọng 15.000 tấn. Trident đã sống sót qua xung đột kết thúc, quay trở về Anh và được đưa về thành phần dự bị, và cuối cùng bị bán để tháo dỡ vào tháng 2, 1946.

Thiết kế và chế tạo

Thiết kế

Sơ đồ ngang và đứng của một tàu ngầm lớp T Nhóm III tiêu biểu

Lớp tàu ngầm T được thiết kế nhằm mục đích thay thế cho các các lớp Odin, ParthianRainbow. Chúng có trọng lượng choán nước 1.090 tấn Anh (1.107 t) khi nổi và 1.575 tấn Anh (1.600 t) khi lặn, lườn tàu có chiều dài chung 276 ft 6 in (84,28 m), mạn tàu rộng 26 ft 6 in (8,08 m) và mớn nước sâu 14 ft 7 in (4,45 m). Thủy thủ đoàn đầy đủ bao gồm 59 sĩ quan và thủy thủ, và con tàu có thể lặn sâu đến 300 ft (91 m).[1]

Tàu ngầm lớp T được trang bị hai động cơ diesel có tổng công suất 2.500 mã lực phanh (1.864 kW), mỗi chiếc vận hành một trục chân vịt. Khi lặn, mỗi trục được vận hành bởi một động cơ điện công suất 725 mã lực (541 kW). Khi di chuyển trên mặt nước nó đạt tốc độ tối đa 15,25 hải lý trên giờ (28,24 km/h; 17,55 mph)9 hải lý trên giờ (17 km/h; 10 mph) khi lặn dưới nước. Chúng có tầm xa hoạt động đến 8.000 hải lý (15.000 km; 9.200 mi) ở tốc độ 10 hải lý trên giờ (19 km/h; 12 mph).[1]

Trident trang bị mười ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm), gồm sáu ống bên trong và bốn ống bên ngoài, tất cả đều hướng ra phía trước, và mang theo tổng cộng 16 quả ngư lôi. Vũ khí trên boong tàu là một khẩu hải pháo QF 4 inch (101,6 mm) Mk XII cùng ba khẩu súng máy .303-calibre cho mục đích phòng không.[1]

Chế tạo

Trident được đặt hàng vào ngày 6 tháng 11, 1936 trong khuôn khổ Chương trình Chế tạo 1936, và được đặt lườn tại xưởng tàu của hãng Cammell Laird ở Birkenhead vào ngày 12 tháng 1, 1937. Nó được hạ thủy vào ngày 7 tháng 12, 1938, và nhập biên chế cùng Hải quân Hoàng gia vào ngày 1 tháng 10, 1939.[3] Nó là chiếc tàu chiến thứ sáu của Hải quân Hoàng gia Anh được đặt cái tên này.[cần dẫn nguồn]

Lịch sử hoạt động

1939

Trident chỉ được cho nhập biên chế khi Chiến tranh Thế giới thứ hai đã bắt đầu. Con tàu phải rút ngắn giai đoạn chạy thử máy và huấn luyện tại các vùng biển ngoài khơi PlymouthPortsmouth.[3]

Chuyến tuần tra thứ nhất

Trident xuất phát từ Oban, Scotland vào ngày 27 tháng 10, 1939 cho chuyến tuần tra đầu tiên trong chiến tranh, và đã hoạt động chống tàu ngầm dọc bờ biển phía Tây Ireland. Nó kết thúc chuyến tuần tra khi đi đến cảng Rosyth vào ngày 12 tháng 11.[3]

Chuyến tuần tra thứ hai

Trident xuất phát từ Rosyth vào ngày 23 tháng 11 cho chuyến tuần tra thứ hai, và đã hoạt động tại khu vực Bắc Hải ngoài khơi bờ biển phía Nam Na Uy. Nó có nhiệm vụ cùng các tàu ngầm khác đánh chặn các thiết giáp hạm Đức ScharnhorstGneisenau đang quay trở về Đức sau khi đã hoạt động ở phía Nam Iceland. Nó không tìm thấy mục tiêu, và quay trở về Rosyth vào ngày 8 tháng 12.[3]

1940

Chuyến tuần tra thứ ba

Trident khởi hành từ Rosyth vào ngày 27 tháng 12, 1939 cho chuyến tuần tra thứ ba, và hoạt động dọc theo bờ biển Na Uy cho đến tận ngoài khơi Murmansk, Liên Xô để trinh sát hoạt động của Hải quân Đức Quốc xã tại cảng này.[Ghi chú 1] Nó quay trở về Rosyth vào ngày 12 tháng 1, 1940.[3]

Chuyến tuần tra thứ tư và thứ năm

Trident sau đó thực hiện hai chuyến tuần tra, cùng xuất phát và kết thúc tại Rosyth, để hoạt động tại khu vực Bắc Hải về phía Tây Đan Mạch. Chúng kéo dài từ ngày 20 đến ngày 24 tháng 1, và từ ngày 31 tháng 1 đến ngày 14 tháng 2.[3]

Chuyến tuần tra thứ sáu và thứ bảy

Trident lại xuất phát từ Rosyth vào ngày 28 tháng 2 cho chuyến tuần tra thứ sáu, và hoạt động tại khu vực Bắc Hải về phía Nam Na Uy để tìm cách đánh chặn chiếc tàu chở dầu Đức Altmark đang tìm cách quay trở về Đức. Nó phát hiện chiếc tàu chở dầu Đức Friedrich Breme 10.597 GRT nhưng không tấn công vì mục tiêu di chuyển bên trong lãnh hải Na Uy. Trident quay trở về Rosyth vào ngày 7 tháng 3.[3]

Chuyến tuần tra tiếp theo của Trident, cùng xuất phát và kết thúc tại Rosyth, diễn ra từ ngày 13 đến ngày 17 tháng 3. Nó đã hoạt động tại khu vực Skagerrak để chuẩn bị can thiệp tại Phần Lan, tuy nhiên kế hoạch bị hủy bỏ khi Phần Lan quyết định gia nhập phe Trục.[3]

Chuyến tuần tra thứ tám

Trident tiếp tục khởi hành từ Rosyth vào ngày 25 tháng 3 cho chuyến tuần tra thứ tám, và hoạt động tại khu vực Bắc Hải dọc bờ biển phía Nam Na Uy. Vào ngày 8 tháng 4, nó chặn bắt chiếc tàu chở dầu Đức Stedingen 8.036 GRT ở phía Nam vũng biển Oslo, tuy nhiên thủy thủ Đức đã tự đánh đắm tàu và Trident phóng một quả ngư lôi kết liễu mục tiêu. Hai ngày sau đó, nó phóng hai quả ngư lôi tấn công tàu vận tải Đức Wandsbek nhưng không trúng đích. Chiếc tàu ngầm kết thúc chuyến tuần tra và quay trở về Rosyth vào ngày 15 tháng 4.[3]

Chuyến tuần tra thứ chín và thứ mười

Trident xuất phát từ Rosyth vào ngày 22 tháng 4 cho chuyến tuần tra thứ chín, và hoạt động tại các khu vực Bắc Hải về phía Nam và phía Tây Na Uy. Tại đây vào ngày 2 tháng 5, nó đã tấn công bằng ngư lôi và hải pháo, gây hư hại nặng cho chiếc tàu vận tải Đức Clair Hugo Stinnes 1 5.295 GRT ngoài khơi vịnh Bjorna. Con tàu Đức buộc phải tự mắc cạn để tránh bị đắm, nhưng sau đó được trục vớt, sửa chữa và tái hoạt động.[4] Trident quay trở về Rosyth vào ngày 4 tháng 5.[3]

Chuyến tuần tra tiếp theo của Trident, cùng xuất phát và kết thúc tại cảng Rosyth, diễn ra từ ngày 18 tháng 5 đến ngày 4 tháng 6, khi chiếc tàu ngầm hoạt động tại khu vực Bắc Hải về phía Nam Na Uy.[3]

Chuyến tuần tra thứ mười một, mười hai và mười ba

Từ căn cứ Rosyth, Trident thực hiện chuyến tuần tra thứ mười một từ ngày 18 tháng 6 đến ngày 3 tháng 7 để hoạt động trong biển Na Uy dọc bờ biển phía Tây Na Uy. Vào ngày 24 tháng 6, nó phóng bốn quả ngư lôi tấn công chiếc tàu tiếp dầu Đức Dithmarschen 10.816 GRT ở vị trí về phía Tây Bắc Trondheim, nhưng tất cả đều bị trượt. [3]

Chiếc tàu ngầm tiếp tục thực hiện chuyến tuần tra tiếp theo từ ngày 17 tháng 7 đến ngày 2 tháng 8, và hoạt động tại các vùng biển Na Uy ngoài khơi Bergen và Trondheim.[3]

Chuyến tuần tra thứ mười ba được Trident thực hiện từ ngày 25 tháng 8, khi nó xuất phát từ Scapa Flow và chuyển sang hoạt động chống tàu ngầm trong Bắc Đại Tây Dương về phía Tây Scotland. Nó kết thúc chuyến tuần tra tại Rothesay vào ngày 7 tháng 9,[3] và sau đó được bảo trì tại Ardrossan cho đến cuối tháng 9.[3]

Chuyến tuần tra thứ mười bốn

Trident xuất phát từ Holy Loch vào ngày 29 tháng 9 cho chuyến tuần tra thứ mười bốn, và hướng xuống phía Nam để hoạt động tại khu vực vịnh Biscay ngoài khơi Lorient, Pháp. Vào ngày 8 tháng 10, ở vị trí khoảng 15 nmi (28 km) về phía Nam Lorient, nó phóng tổng cộng tám quả ngư lôi tấn công chiếc tàu ngầm U-31, và sau đó tiếp tục bắn hải pháo, nhưng tất cả đều không trúng đích. Trident kết thúc chuyến tuần tra và quay trở về Holy Loch vào ngày 16 tháng 10.[3]

Chuyến tuần tra thứ mười lăm và mười sáu

Trident lại khởi hành từ Holy Loch vào ngày 3 tháng 11 cho chuyến tuần tra thứ mười lăm để tiếp tục hoạt động tại khu vực vịnh Biscay. Nó quay trở về Holy Loch vào ngày 21 tháng 11.[3]

Sau khi được bảo trì tại Ardrossan, Trident tiếp tục xuất phát từ Holy Loch vào ngày 17 tháng 12 cho chuyến tuần tra tiếp theo. Nó hướng xuống phía Tây Nam để hoạt động trong Đại Tây Dương tại khu vực Azores nhằm đề phòng Đức xâm chiếm quần đảo này. Tại đây vào ngày 27 tháng 12 nó tấn công nhầm chiếc tàu buôn Panama Bonita, nhưng may mắn cả năm quả ngư lôi đều không trúng đích. Chiếc tàu ngầm quay trở về Holy Loch vào ngày 16 tháng 1, 1941.[3]

1941

Chuyến tuần tra thứ mười bảy

Từ cuối tháng 1 đến đầu tháng 4, 1941, Trident được bảo trì và tái trang bị tại xưởng tàu Ailsa ở Troon, và sau đó thực hành huấn luyện tại các vùng biển Scotland. Sau đó chiếc tàu ngầm xuất phát từ Holy Loch vào ngày 28 tháng 4 cho chuyến tuần tra thứ mười bảy, và hoạt động tại khu vực vịnh Biscay. Nó kết thúc chuyến tuần tra và quay trở về Holy Loch vào ngày 19 tháng 5.[3]

Chuyến tuần tra thứ mười tám và mười chín

Trident sau đó thực hiện hai chuyến tuần tra, cùng xuất phát và kết thúc tại Holy Loch và kéo dài từ ngày 1 đến ngày 20 tháng 6 và từ ngày 11 đến ngày 24 tháng 7. Chiếc tàu ngầm đã hoạt động tại vùng biển vịnh Biscay, đặc biệt là khu vực ngoài khơi Brest, Pháp nhằm đề phòng thiết giáp hạm Scharnhorst có thể xuất phát từ các cảng Pháp.[3]

Chiếc tàu ngầm sau đó rời Holy Loch vào ngày 1 tháng 8 để di chuyển đến vùng biển Barents về phía Bắc Liên Xô, đi đến Polyarny, Murmansk vào ngày 10 tháng 8.[3]

Chuyến tuần tra thứ hai mươi

Trident xuất phát từ Polyarny vào ngày 16 tháng 8 cho chuyến tuần tra thứ hai mươi, và đã hoạt động tại vùng biển Bắc Cực về phía cực Bắc của Na Uy. Vào ngày 19 tháng 8, nó bắn hải pháo gây hư hại cho chiếc tàu vận tải Đức Levante 4.769 GRT ở vị trí về phía Đông Havoysund, Na Uy. Đến ngày 22 tháng 8, nó phóng ngư lôi đánh chìm chiếc tàu vận tải Đức Ostpreußen 3.030 GRT tại Kvaenangenfjord. Sang ngày 30 tháng 8, nó lại phóng ngư lôi tấn công và đánh chìm các tàu vận tải Đức Donau II 2.931 GRTBahia Laura 8.561 GRT tại Lopphavet, Na Uy. Khi kết thúc chuyến tuần tra và trên đường quay trở về căn cứ vào ngày 3 tháng 9, Trident đã đụng độ với tàu ngầm U-566, và bị đối thủ phóng hai quả ngư lôi tấn công nhưng tất cả đều bị trượt. Trident về đến Polyarny cùng ngày hôm đó.[3]

Chuyến tuần tra thứ hai mươi mốt

Trident lại khởi hành từ Polyarny vào ngày 16 tháng 9 cho chuyến tuần tra thứ hai mươi mốt, và tiếp tục hoạt động tại vùng biển về phía cực Bắc Na Uy. Vào ngày 23 tháng 9, nó phóng ba quả ngư lôi tấn công chiếc tàu vận tải đông lạnh Đức Christian Sinding nhưng không thành công. Đến ngày 27 tháng 9, nó phóng ngư lôi tấn công và gây hư hại nặng cho chiếc tàu đánh cá vũ trang Đức UJ 1201. Sang ngày 30 tháng 9, nó lại phóng ba quả ngư lôi tấn công chiếc tàu bệnh viện Đức Birka ở vị trí 4 nmi (7,4 km) về phía Tây Bắc Havøysund nhưng không trúng đích. Chiếc tàu ngầm quay trở về Polyarny vào ngày 3 tháng 10.[3]

Chuyến tuần tra thứ hai mươi hai

Trident tiếp tục xuất phát từ Polyarny vào ngày 30 tháng 10 cho chuyến tuần tra thứ hai mươi hai để lại hoạt động tại vùng biển cực Bắc Na Uy. Tại đây vào ngày 3 tháng 11, nó phóng ngư lôi đánh chìm tàu đánh cá vũ trang Đức UJ 1213 / Rau IV 354 GRT tại Porsangerfjorden. Tại cùng vị trí này nó phóng ngư lôi tấn công một đoàn tàu vận tải vào ngày hôm sau, và một tàu quét mìn Đức vào ngày 7 tháng 11 nhưng đều không thành công, rồi quay trở lại Polyarny vào ngày 9 tháng 11.[3]

Chuyến tuần tra thứ hai mươi ba

Rời Polyarny vào ngày 15 tháng 11 để quay trở về Anh, Trident đồng thời thực hiện chuyến tuần tra thứ hai mươi ba để hoạt động tại khu vực về phía Tây Bắc Lofoten. Nó kết thúc chuyến tuần tra tại cảng Lerwick vào ngày 28 tháng 11.[3]

Trong phần lớn thời gian chiếc tàu ngầm được biệt phái sang hoạt động tại vùng biển phía Bắc Na Uy từ căn cứ Liên Xô, một con tuần lộc con đã sống trên tàu.[5] Đây là món quà được người dân Nga trao tặng vào tháng 8, 1941, trong một hoạt động ngoại giao chào mừng thiết lập quan hệ Đồng Minh giữa Anh và Nga.[5] Con tuần lộc được đặt tên là Pollyanna, theo tên căn cứ hải quân Liên Xô, và thích nghi tốt với cuộc sống trên tàu.[5] Khi chiếc tàu ngầm quay trở về Anh, Pollyanna được đưa đến và sống cho đến cuối đời tại một vườn thú địa phương.[5] Nó duy trì thói quen cúi đầu ba lần mỗi khi nghe tiếng còi tàu, một tập quán được huấn luyện khi phục vụ cùng hải quân.[5]

Trong giai đoạn từ cuối tháng 11, 1941 đến đầu tháng 1, 1942, Trident được sửa chữa và tái trang bị tại Blyth, Northumberland.[3]

1942

Chuyến tuần tra thứ hai mươi bốn và mươi lăm

Trident xuất phát từ Blyth vào ngày 20 tháng 1, 1942 cho chuyến tuần tra thứ hai mươi bốn, và đã hoạt động tại khu vực biển Na Uy về phía Bắc Trondheim. Nó kết thúc chuyến tuần tra và quay trở về Lerwick vào ngày 5 tháng 2.[3]

Trident khởi hành từ Lerwick vào ngày 12 tháng 2 cho chuyến tuần tra thứ hai mươi lăm, và tiếp tục hoạt động trong khu vực biển Na Uy ngoài khơi Trondheim nhằm đề phòng các tàu chiến chủ lực Đức có thể đi đến khu vực này sau khi băng qua eo biển Manche. Nó quay trở về Lerwick hai ngày sau đó.[3]

Chuyến tuần tra thứ hai mươi sáu

Trident tiếp tục hoạt động trong khu vực biển Na Uy về phía Tây Trondheim trong chuyến tuần tra thứ hai mươi sáu, sau khi xuất phát từ Lerwick vào ngày 19 tháng 2. Tại đây vào ngày 23 tháng 2, nó đã phóng ngư lôi tấn công các tàu tuần dương hạng nặng Prinz EugenAdmiral Scheer của Hải quân Đức Quốc xã ở vị trí về phía Tây Kristiansand. Một quả đã đánh trúng phía đuôi Prinz Eugen tại tọa độ 63°12′B 07°00′Đ / 63,2°B 7°Đ / 63.200; 7.000, làm kẹt bánh lái và hư hại động cơ, nhưng đã cố lết quay trở lại cảng Trondheim, còn Admiral Scheer đã chạy thoát. Trident kết thúc chuyến tuần tra và quay trở về Lerwick vào ngày 17 tháng 3.[3]

Chuyến tuần tra thứ hai mươi bảy

Trident xuất phát từ Holy Loch vào ngày 6 tháng 4 cho chuyến tuần tra thứ hai mươi bảy, và hoạt động trong khu vực biển Na Uy về phía Bắc Trondheim. Vào ngày 18 tháng 4, nó phóng hai quả ngư lôi tấn công một tàu buôn nhưng không trúng đích. Chỉ hai ngày sau đó, nó phóng ba quả ngư lôi đánh chìm chiếc tàu buôn Đức Hödur 5.368 GRT tại Follafjord về phía Tây Nam Rorvik. Chiếc tàu ngầm quay trở về Lerwick vào ngày 25 tháng 4.[3]

Chuyến tuần tra thứ hai mươi tám

Trident xuất phát từ Lerwick vào ngày 15 tháng 5 cho chuyến tuần tra thứ hai mươi tám, và đi đến Seyðisfjörður, Iceland ba ngày sau đó trước khi tham gia hộ tống cho Đoàn tàu PQ-16 đi sang Liên Xô. Hỏa lực phòng không của chiếc tàu ngầm đã giúp chống trả các đợt không kích của đối phương, và nó đi đến Polyarny, Liên Xô vào ngày 30 tháng 5.[3]

Chuyến tuần tra thứ hai mươi chín và ba mươi

Chuyến tuần tra tiếp theo, cùng xuất phát và kết thúc tại căn cứ Polyarny, kéo dài từ ngày 12 đến ngày 19 tháng 6. Trident đã hoạt động chống tàu ngầm trong biển Barents ngoài khơi bán đảo Kola.[3]

Chiếc tàu ngầm lại xuất phát từ Polyarny vào ngày 27 tháng 6 cho chuyến tuần tra thứ ba mươi, khi nó tham gia hộ tống cho các đoàn tàu QP-13 quay trở về Anh và đoàn tàu PQ-17 đi sang Liên Xô. Vào ngày 6 tháng 7, nó bắt gặp tàu ngầm U-334 bị hư hại đang được đồng đội U-456 hộ tống quay trở về cảng; tuy nhiên nó đã không thể tấn công các đối thủ. Trident kết thúc chuyến tuần tra và quay trở về Anh, về đến cảng Lerwick vào ngày 12 tháng 7.[3]

Sau đó từ đầu tháng 8 đến đầu tháng 11, nó được tái trang bị tại Troon, và sau đó thực hành huấn luyện tại các vùng biển Scotland.[3]

1943

Chuyến tuần tra thứ ba mươi mốt

Trident xuất phát từ Lerwick vào ngày 11 tháng 1, 1943 cho chuyến tuần tra thứ ba mươi mốt, và đã hoạt động dọc theo bờ biển phía Tây Na Uy cho đến tận phía cực Bắc Na Uy. Nó kết thúc chuyến tuần tra và quay trở về Lerwick vào ngày 2 tháng 2.[3]

Sau khi được bảo trì tại Glasgow, chiếc tàu ngầm rời Holy Loch vào ngày 1 tháng 3 để chuyển sang phục vụ tại khu vực Địa Trung Hải, đi đến Gibraltar vào ngày 11 tháng 3.[3]

Chuyến tuần tra thứ ba mươi hai

Trident xuất phát từ Gibraltar vào ngày 17 tháng 3 cho chuyến tuần tra thứ ba mươi hai trong Địa Trung Hải, và hoạt động trong vịnh Valencia trước khi đi đến Algiers vào ngày 23 tháng 3.[3]

Chuyến tuần tra thứ ba mươi ba

Trident xuất phát từ Algiers vào ngày 31 tháng 3 cho chuyến tuần tra thứ ba mươi ba, khi nó làm nhiệm vụ đặc biệt tại đảo Corse đồng thời hoạt động tại khu vực vịnh Genoa. Vào ngày 3 tháng 4, nó phóng sáu quả ngư lôi tấn công chiếc tàu ngầm Ý Francesco Rismondo (nguyên là tàu ngầm Osvetnik của Nam Tư) ở phía Tây đảo Corse, nhưng không thành công. Hai ngày sau đó, nó lại phóng ngư lôi tấn công chiếc tàu vận tải Ý Anagni nhưng vẫn không trúng đích. Sau đó trong các ngày 67 tháng 4, Trident cho thực hiện các đợt đổ bộ lực lượng biệt kích lên đảo Corse. Đến ngày 9 tháng 4, nó lại tấn công chiếc tàu ngầm Đức U-371 trong vịnh Genoa, nhưng cả hai quả ngư lôi phóng ra đều bị trượt. Ba ngày sau đó, nó phóng ngư lôi tấn công chiếc tàu buôn Ý Firenze ngoài khơi mũi Noli nhưng không thành công. Trident quay trở về Algiers vào ngày 18 tháng 4.[3]

Chuyến tuần tra thứ ba mươi bốn

Trident khởi hành từ Algiers vào ngày 1 tháng 5 cho chuyến tuần tra thứ ba mươi bốn và tiếp tục làm nhiệm vụ đặc biệt tại miền Nam nước Pháp cũng như hoạt động tại khu vực vịnh Genoa. Trong các ngày 101 tháng 5, nó đi đến điểm hẹn nhưng không liên lạc được với các đặc vụ trên bờ. Sang ngày 12 tháng 5, nó phóng sáu quả ngư lôi tấn công chiếc tàu vận tải Ý Anagni ở vị trí về phía Đông Cervione, Corse nhưng không trúng đích. Hai ngày sau đó, nó lại phóng bốn quả ngư lôi tấn công chiếc tàu chở hành khách Pháp Cap Corse ở vị trí về phía Tây Bắc Corse, nhưng tất cả đều bị trượt. Chiếc tàu ngầm kết thúc chuyến tuần tra tại Algiers vào ngày 18 tháng 5.[3]

Sau đó vào cuối tháng 5, Trident di chuyển đến Malta để sửa chữa.[3]

Chuyến tuần tra thứ ba mươi lăm

Trident xuất phát từ Malta vào ngày 23 tháng 6 cho chuyến tuần tra thứ ba mươi lăm, và đã hoạt động tại khu vực biển Aegea. Vào ngày 27 tháng 6, nó đã đánh chìm chiếc thuyền buồm Hy Lạp Sal. 5 / Agios Panteleimon 105 GRT bằng hải pháo ở vị trí về phía Bắc đảo Crete. Đến ngày 2 tháng 7, nó lại dùng hải pháo đánh chìm hai thuyền buồm, trong đó có chiếc Sishman 97 GRT của Thổ Nhĩ Kỳ ở phía Bắc đảo Rhodes. Hai ngày sau đó, nó lại phóng ngư lôi tấn công và gây hư hại cho chiếc tàu vận tải Ý Vesta 3.351 GRT ở phía Đông Bắc Amorgos, Hy Lạp. Sang ngày 8 tháng 7, nó phóng sáu quả ngư lôi nhắm vào chiếc tàu vận tải Đức Gerda Toft nhưng không trúng đích, rồi bắn hải pháo gây hư hại cho chiếc tàu tuần tra phụ trợ Đức GA 41 / Tassia Christa ở phía Bắc eo biển Doro. Đến ngày hôm sau, nó đã bắn phá mỏ bauxite Amorgos bằng hải pháo, rồi kết thúc chuyến tuần tra khi đi đến Beirut vào ngày 13 tháng 7.[3]

Trident rời Beirut vào ngày 27 tháng 7 để di chuyển sang Port Said, Ai Cập, chặng đầu tiên của hành trình hướng sang phía Đông do được điều động sang phục vụ tại Viễn Đông. Sau khi băng qua kênh đào Suez và có chặng dừng tại Aden, chiếc tàu ngầm đi đến Colombo, Ceylon (nay là Sri Lanka) vào ngày 12 tháng 8.[3]

Chuyến tuần tra thứ ba mươi sáu

Trident xuất phát từ Colombo vào ngày 15 tháng 8 cho chuyến tuần tra thứ ba mươi, thoạt tiên dự định hoạt động tại khu vực eo biển Malacca. Tuy nhiên chỉ bốn ngày sau đó, chiếc tàu ngầm gặp trục trặc động cơ diesel bên mạn phải, nên nó chuyển sang hoạt động tại vùng biển phía Bắc đảo Sumatra, Đông Ấn thuộc Hà Lan. Tại đây vào ngày 29 tháng 8, nó phóng tám quả ngư lôi tấn công chiếc tàu tuần dương huấn luyện Nhật Bản Kashii, nhưng tất cả đầu bị trượt. Chiếc tàu ngầm kết thúc chuyến tuần tra và quay trở về Colombo vào ngày 10 tháng 9.[3]

Do những hư hại đối với động cơ diesel bên mạn phải con tàu bên ngoài khả năng sửa chữa của những cơ sở tại Viễn Đông, Trident phải được gửi trở về Anh. Nó rời Colombo vào ngày 29 tháng 9, và sau hành trình lần lượt đi ngang qua Aden, kênh đào Suez, Port Said, Malta và Gibraltar, nó về đến Blyth vào ngày 12 tháng 12.[3]

1944 - 1945

Thủy thủ của Trident vào giai đoạn cuối Thế Chiến II

Trong giai đoạn từ cuối tháng 1 đến cuối tháng 7, 1944, Trident được sửa chữa, đại tu và tái trang bị tại xưởng tàu ở Troon, Scotland.[3] Sau khi hoàn tất, con tàu tiến hành chạy thử máy và thực hành huấn luyện, rồi rời cảng Rothesay vào ngày 15 tháng 10 để đi sang Gibraltar, chặng đầu tiên của hành trình quay trở lại Viễn Đông. Sau chuyến đi ngang qua Malta, Port Said, kênh đào Suez và Aden, nó đi đến Trincomalee, Ceylon vào ngày 10 tháng 12.[3]

Trong hành trình đi sang Viễn Đông, động cơ của Trident lại gặp trục trặc, và phải được sửa chữa tại xưởng tàu ở Trincomalee cho đến ngày 14 tháng 4, 1945.[3]

Chuyến tuần tra thứ ba mươi bảy

Trident xuất phát từ Trincomalee vào ngày 28 tháng 5 cho chuyến tuần tra thứ ba mươi bảy, và đã hoạt động tại các khu vực eo biển Malacca và dọc theo bờ biển phía Tây đảo Sumatra, Đông Ấn thuộc Hà Lan. Vào ngày 2 tháng 6, nó không thể hoàn thành nhiệm vụ đặc biệt trong Chiến dịch Noah IV, nhưng đã đánh chìm một thuyền buồm bằng hải pháo. Đến ngày 12 tháng 6, chiếc tàu ngầm bắn phá tháp không lưu của một sân bay gần Lhokseumawe ở phía Bắc Sumatra. Sau đó vào ngày 18 tháng 6, nó bắn hải pháo đánh chìm một tàu đổ bộ ở vị trí dọc theo bờ biển phía Tây Sumatra, rồi kết thúc chuyến tuần tra và quay trở về Trincomalee vào ngày 29 tháng 6.[3]

Trong suốt tháng 7, chiếc tàu ngầm được bảo trì và sửa chữa tại Trincomalee.

Chuyến tuần tra thứ ba mươi tám

Trident khởi hành từ Trincomalee vào ngày 8 tháng 8 cho chuyến tuần tra thứ ba mươi tám, cũng là chuyến cuối cùng, với nhiệm vụ trinh sát thời tiết ở vị trí về phía Tây Bắc Sumatra. Sau khi Đế quốc Nhật Bản chấp nhận đầu hàng vào ngày 15 tháng 8 giúp kết thúc cuộc xung đột, chiếc tàu ngầm vẫn tiếp tục chuyến tuần tra, và chỉ quay trở về Trincomalee vào ngày 3 tháng 9.[3]

Sau chiến tranh

Trident rời cảng Trincomalee vào ngày 18 tháng 9 để quay trở về Anh, và sau các chặng dừng tại Port Said, Alexandria, Malta và Gibraltar, nó về đến Portsmouth vào ngày 26 tháng 10.[3] Con tàu được đưa về thành phần dự bị và xuất biên chế vào ngày 20 tháng 11, 1945,[3] và cuối cùng bị bán cho hãng John Cashmore Ltd. tại Newportđể tháo dỡ vào ngày 17 tháng 2, 1946.[3]

Tóm tắt chiến công

Trident đã đánh chìm được bảy tàu buôn cùng một tàu chiến phụ trợ với tổng tải trọng 28.472 GRT, đồng thời gây hư hại cho ba tàu buôn có tổng tải trọng 13.415 GRT cùng một tàu chiến tải trọng 15.000 tấn.[3]

NgàyTên tàuQuốc tịchTải trọng[Ghi chú 2]Số phận
8 tháng 4, 1940Stedingen Đức Quốc xã8.036Bị đánh chìm
2 tháng 5, 1940Clair Hugo Stinnes 1 Đức Quốc xã5.295Bị hư hại
19 tháng 8, 1941Levante Đức Quốc xã4.769Bị hư hại
22 tháng 8, 1941Ostpreußen Đức Quốc xã3.030Bị đánh chìm
30 tháng 8, 1941Donau II Đức Quốc xã2.931Bị đánh chìm
30 tháng 8, 1941Bahia Laura Đức Quốc xã8.561Bị đánh chìm
27 tháng 9, 1941UJ 1201 Hải quân Đức Quốc xã-Bị hư hại
3 tháng 11, 1941UJ 1213 / Rau IV Hải quân Đức Quốc xã354Bị đánh chìm
23 tháng 2, 1942Prinz Eugen Hải quân Đức Quốc xã15.000Bị hư hại
20 tháng 4, 1942Hödur Đức Quốc xã5.368Bị đánh chìm
27 tháng 6, 1943Sal. 5 / Agios Panteleimon Hy Lạp105Bị đánh chìm
2 tháng 7, 1943Sishman Thổ Nhĩ Kỳ87Bị đánh chìm
4 tháng 7, 1943Vesta Ý3.351Bị hư hại
8 tháng 7, 1943GA 41 / Tassia Christa Hải quân Đức Quốc xã-Bị hư hại

Xem thêm

Tham khảo

Ghi chú

  1. Đến lúc này Liên Xô vẫn còn giữ vị thế trung lập trong Thế Chiến II.
  2. Tàu buôn theo tấn đăng ký toàn phần. Tàu quân sự theo trọng lượng choán nước.

Chú thích

  1. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 Helgason, Guðmundur. "T class – Technical information". U-boat Types - uboat.net. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2026.
  2. Kemp (1990), tr. 22, 26.
  3. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 Helgason, Guðmundur. "HMS Trident (N 52) – Submarine of the T Class". Allied Warships - uboat.net. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2026.
  4. Chalmers (1954), tr. 84.
  5. 1 2 3 4 5 Preston (2001), tr. 125.

Thư mục

Liên kết ngoài