HMS Taurus (P339)
Tàu ngầm Hà Lan HNLMS Dolfijn, nguyên là chiếc HMS Taurus | |
| Lịch sử | |
|---|---|
| Tên gọi | HMS Taurus (P339) |
| Đặt hàng | 2 tháng 9, 1940 |
| Xưởng đóng tàu | Vickers-Armstrongs, Barrow-in-Furness |
| Đặt lườn | 30 tháng 9, 1941 |
| Hạ thủy | 27 tháng 6, 1942 |
| Nhập biên chế | 3 tháng 11, 1942 |
| Số phận | Chuyển cho Hà Lan, 4 tháng 6, 1948 |
| Tên gọi | HNLMS Dolfijn |
| Nhập biên chế | 4 tháng 6, 1948 |
| Xuất biên chế | 7 tháng 12, 1953 |
| Số phận | Hoàn trả cho Anh, 7 tháng 12, 1953 |
| Tên gọi | HMS Taurus (P339) |
| Tái biên chế | 8 tháng 12, 1953 |
| Số phận | Bán để tháo dỡ, tháng 4, 1960 |
| Đặc điểm khái quát | |
| Lớp tàu | lớp T |
| Kiểu tàu | tàu ngầm diesel-điện |
| Trọng tải choán nước | |
| Chiều dài | 276 ft 6 in (84,3 m)[1] |
| Sườn ngang | 25 ft 6 in (7,8 m) |
| Mớn nước |
|
| Động cơ đẩy |
|
| Tốc độ |
|
| Tầm xa | 8.000 nmi (15.000 km; 9.200 mi) ở tốc độ 10 kn (19 km/h; 12 mph) |
| Tầm hoạt động | 131 tấn nhiên liệu |
| Độ sâu thử nghiệm | 300 ft (91 m)[2] |
| Thủy thủ đoàn tối đa | 59[1] |
| Vũ khí | |
HMS Taurus (P339)[Ghi chú 1] là một tàu ngầm lớp T thuộc Nhóm III, được Hải quân Hoàng gia Anh chế tạo trong Chương trình Chế tạo 1940 trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nhập biên chế năm 1942, con tàu đã hoạt động tại các khu vực Đại Tây Dương, Địa Trung Hải và Viễn Đông, thực hiện được mười chuyến tuần tra, đánh chìm được mười tám tàu buôn và một tàu chiến có tổng tải trọng 7.422 GRT và 2.625 tấn, đồng thời gây hư hại cho một tàu buôn cùng một tàu chiến có tổng tải trọng 4.697 GRT và 2.625 tấn. Taurus sống sót qua xung đột kết thúc, rồi được chuyển cho Hà Lan và phục vụ cùng Hải quân Hoàng gia Hà Lan như là chiếc HNLMS Dolfijn từ năm 1948 đến năm 1953. Chiếc tàu ngầm được hoàn trả cho Anh và tiếp tục phục vụ cùng Hải quân Anh cho đến khi bị bán để tháo dỡ vào tháng 4, 1960.
Thiết kế và chế tạo
Thiết kế

Lớp tàu ngầm T được thiết kế nhằm mục đích thay thế cho các các lớp Odin, Parthian và Rainbow. Chúng có trọng lượng choán nước 1.090 tấn Anh (1.107 t) khi nổi và 1.575 tấn Anh (1.600 t) khi lặn, lườn tàu có chiều dài chung 276 ft 6 in (84,28 m), mạn tàu rộng 26 ft 6 in (8,08 m) và mớn nước sâu 14 ft 7 in (4,45 m). Thủy thủ đoàn đầy đủ bao gồm 59 sĩ quan và thủy thủ, và con tàu có thể lặn sâu đến 300 ft (91 m).[1]
Tàu ngầm lớp T được trang bị hai động cơ diesel có tổng công suất 2.500 mã lực phanh (1.864 kW), mỗi chiếc vận hành một trục chân vịt. Khi lặn, mỗi trục được vận hành bởi một động cơ điện công suất 725 mã lực (541 kW). Khi di chuyển trên mặt nước nó đạt tốc độ tối đa 15,25 hải lý trên giờ (28,24 km/h; 17,55 mph) và 9 hải lý trên giờ (17 km/h; 10 mph) khi lặn dưới nước. Chúng có tầm xa hoạt động đến 8.000 hải lý (15.000 km; 9.200 mi) ở tốc độ 10 hải lý trên giờ (19 km/h; 12 mph).[1]
Taurus trang bị mười một ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm), gồm sáu ống bên trong và năm ống bên ngoài, với tám ống ra phía trước và ba ống còn lại hướng ra phía đuôi, và mang theo tổng cộng 17 quả ngư lôi. Vũ khí trên boong tàu là một khẩu hải pháo QF 4 inch (101,6 mm) Mk XII cùng ba khẩu súng máy .303-calibre cho mục đích phòng không.[1]
Chế tạo
Taurus được đặt hàng vào ngày 2 tháng 9, 1940 trong khuôn khổ Chương trình Chế tạo 1940, và được đặt lườn tại xưởng tàu của hãng Vickers-Armstrongs ở Barrow-in-Furness vào ngày 30 tháng 9, 1941. Nó được hạ thủy vào ngày 27 tháng 6 , 1942, và nhập biên chế cùng Hải quân Hoàng gia vào ngày 3 tháng 11, 1942 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Thiếu tá Hải quân Mervyn R. G. Wingfield.[3] Nó là chiếc tàu chiến thứ hai của Hải quân Hoàng gia Anh được đặt cái tên này.
Lịch sử hoạt động
1942
Chuyến tuần tra thứ nhất
Sau khi thực hành huấn luyện tại các vùng biển Anh và Scotland, Taurus xuất phát từ cảng Lerwick vào ngày 16 tháng 12, 1942 cho chuyến tuần tra đầu tiên trong chiến tranh. Nó đã hoạt động dọc theo bờ biển Na Uy cho đến phía cực Bắc Na Uy để bảo vệ cho một đoàn tàu vận tải đi sang Liên Xô, rồi quay trở về Lerwick vào ngày 1 tháng 1, 1943.[3]
1944
Chuyến tuần tra thứ mười hai
Taurus lại xuất phát từ Trincomalee vào ngày 12 tháng 4 cho chuyến tuần tra thứ mười hai, cũng là chuyến cuối cùng tại Viễn Đông, và hoạt động tại khu vực eo biển Malacca. Vào ngày 18 tháng 4 rải một bãi 12 quả thủy lôi ngoài khơi Penang; bãi mìn này có thể đã gây hư hại cho tàu ngầm Nhật I-37 (2.625 tấn) vào ngày 27 tháng 4. Cùng trong ngày 18 tháng 4, Taurus phát hiện một tàu ngầm Nhật nhưng không thể cơ động vào vị trí tấn công thuận lợi. Đến ngày 22 tháng 4, nó đánh chìm tàu cứu hộ Nhật Bản Hokuan I-Go GRT 558 cùng một tàu kéo bằng hải pháo dọc theo bờ biển về phía Tây Thái Lan. Nó kết thúc chuyến tuần tra và quay trở về Trincomalee vào ngày 26 tháng 4.[3]
Taurus rời Trincomalee vào ngày 26 tháng 4 để quay trở về Anh cho một lượt đại tu. Sau hành trình dài lần lượt đi ngang qua Aden, kênh đào Suez, Port Said, Malta và Gibraltar, nó về đến Holy Loch vào ngày 1 tháng 7. Nó được đại tu và tái trang bị tại xưởng tàu Ailsa từ giữa tháng 7, 1944 đến cuối tháng 1, 1945.[3]
1945
Taurus thực hành huấn luyện tại các vùng biển Anh và Scotland cho đến ngày 2 tháng 5, 1945, khi nó lên đường từ cảng Holy Loch do một lần nữa được điều sang phục vụ tại Viễn Đông. Sau khi lần lượt đi ngang qua Gibraltar, Malta, Port Said, kênh đào Suez, Aden và Trincomalee, nó đi đến Fremantle, Australia vào ngày 5 tháng 7.[3] Chiếc tàu ngầm vẫn đang trong giai đoạn sửa chữa và chuẩn bị cho chuyến tuần tra tiếp theo, khi Đế quốc Nhật Bản tuyên bố chấp nhận đầu hàng vào ngày 15 tháng 8, giúp kết thúc vĩnh viễn cuộc xung đột.[3]
Sau chiến tranh Taurus tiếp tục phục vụ cùng Hải quân Hoàng gia cho đến khi được chuyển giao cho Hà Lan vào ngày 4 tháng 6, 1948.[3]
HNLMS Dolfijn
Chiếc tàu ngầm phục vụ cùng Hải quân Hoàng gia Hà Lan như là chiếc HNLMS Dolfijn cho đến khi được cho xuất biên chế vào ngày 7 tháng 11, 1953 và hoàn trả cho Anh.[4][3]
HMS Taurus
Chiếc tàu ngầm tái biên chế trở lại cùng Hải quân Hoàng gia Anh vào ngày 8 tháng 12, 1953 và lấy lại tên ban đầu HMS Taurus. Nó tiếpp tục phục vụ thêm bảy năm, và cuối cùng bị bán để tháo dỡ vào tháng 4, 1960.[3]
Tóm tắt chiến công
Taurus đã đánh chìm được mười tám tàu buôn và một tàu chiến có tổng tải trọng 7.422 GRT và 2.625 tấn, đồng thời gây hư hại cho một tàu buôn cùng một tàu chiến có tổng tải trọng 4.697 GRT và 2.625 tấn.[3]
| Ngày | Tên tàu | Quốc tịch | Tải trọng[Ghi chú 2] | Số phận |
|---|---|---|---|---|
| 2 tháng 3, 1943 | Clairette | 150 | Bị đánh chìm | |
| 6 tháng 3, 1943 | Bartolo | 3.120 | Bị đánh chìm | |
| 10 tháng 3, 1943 | Derna | 1.769 | Bị đánh chìm | |
| 13 tháng 3, 1943 | Ghrib | 82 | Bị đánh chìm | |
| 13 tháng 4, 1943 | Santa Irene | 520 | Bị đánh chìm | |
| 14 tháng 4, 1943 | Alcione C. | 521 | Bị đánh chìm | |
| 15 tháng 4, 1943 | Luigi | 433 | Bị đánh chìm | |
| 3 tháng 6, 1943 | Syr 674 / Aris | 58 | Bị đánh chìm | |
| 3 tháng 6, 1943 | Chi 100 / Panagia | 110 | Bị đánh chìm | |
| 5 tháng 6, 1943 | Vol 29 / Agios Georgios | - | Bị đánh chìm | |
| 5 tháng 6, 1943 | Vol 146 / Agios Georgios | - | Bị đánh chìm | |
| 6 tháng 6, 1943 | Hyd 146 / Panagia | - | Bị đánh chìm | |
| 11 tháng 6, 1943 | Rhodes 1433 / San Giovanni | 35 | Bị đánh chìm | |
| 11 tháng 6, 1943 | Rhodes 1048 / Nuova Fortuna | 7 | Bị đánh chìm | |
| 8 tháng 7, 1943 | Pi 2540 / Giorgios | - | Bị đánh chìm | |
| 8 tháng 7, 1943 | Mimis | - | Bị đánh chìm | |
| 8 tháng 7, 1943 | Konstantinos Louloudis | 4.697 | Bị hư hại | |
| 11 tháng 7, 1943 | Romano | 59 | Bị đánh chìm | |
| 13 tháng 11, 1943 | I-34 | 2.625 | Bị đánh chìm | |
| 24 tháng 4, 1944 | Hokuan I-Go | 558 | Bị đánh chìm | |
| 27 tháng 4, 1944 | I-34 | 2.625 | Bị hư hại |
Tham khảo
Ghi chú
- ↑ Tên đặt theo Taurus, là tên của hai nhân vật trong Thần thoại Hy Lạp
- ↑ Tàu buôn theo tấn đăng ký toàn phần. Tàu quân sự theo trọng lượng choán nước.
Chú thích
- 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 Helgason, Guðmundur. "T class – Technical information". U-boat Types - uboat.net. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2026.
- ↑ Kemp (1990), tr. 22, 26.
- 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Helgason, Guðmundur. "HMS Taurus (P 339) – Submarine of the T Class". Allied Warships - uboat.net. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2025.
- ↑ "Dolfijn (2)". dutchsubmarines.com. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2026.
Thư mục
- Akermann, Paul (2002). Encyclopaedia of British Submarines 1901–1955 . Penzance, Cornwall: Periscope Publishing. ISBN 1-904381-05-7.
- Bagnasco, Erminio (1977). Submarines of World War Two. Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 0-87021-962-6.
- Chesneau, Roger, biên tập (1980). Conway's All the World's Fighting Ships 1922–1946. Greenwich, UK: Conway Maritime Press. ISBN 0-85177-146-7.
- Colledge, J. J.; Warlow, Ben (1969). Ships of the Royal Navy: the complete record of all fighting ships of the Royal Navy (Rev. ed.). London: Chatham. ISBN 978-1-86176-281-8. OCLC 67375475.
- Kemp, Paul J. (1990). The T-class Submarine: The Classic British Design. Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 1-55750-826-7. OCLC 22575300.
- McCartney, Innes (2006). British Submarines 1939–1945. New Vanguard. Quyển 129. Oxford, UK: Osprey. ISBN 1-84603-007-2.
- Rohwer, Jürgen (2005). Chronology of the War at Sea 1939–1945: The Naval History of World War Two . Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 1-59114-119-2.
Liên kết ngoài
- Helgason, Guðmundur. "T class – Technical information". U-boat Types - uboat.net. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2026.
- Helgason, Guðmundur. "HMS Taurus (P 339) – Submarine of the T Class". Allied Warships - uboat.net. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2025.
- "Dolfijn (2)". dutchsubmarines.com. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2026.
- IWM Interview with Mervyn Wingfield, who commanded HMS Taurus from 1942 to 1944
- Lớp tàu ngầm Anh T
- Tàu ngầm của Hải quân Hoàng gia Anh trong Thế Chiến II
- Tàu ngầm của Hải quân Hoàng gia Anh trong Chiến tranh Lạnh
- Tàu ngầm của Hải quân Hoàng gia Hà Lan trong Chiến tranh Lạnh
- Tàu thủy năm 1942