Bước tới nội dung

HMS Thule (P325)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Tàu ngầm HMS Thule (P325) tại Greenock, ngày 8 tháng 6 năm 1944
Lịch sử
Anh Quốc
Tên gọiHMS Thule (P325)
Đặt tên theoThule
Đặt hàng6 tháng 6, 1941
Xưởng đóng tàuXưởng tàu Devonport
Đặt lườn20 tháng 9, 1941
Hạ thủy22 tháng 10, 1942
Nhập biên chế13 tháng 5, 1944
Số phậnBán để tháo dỡ, tháng 9, 1962
Đặc điểm khái quát
Lớp tàulớp T
Kiểu tàutàu ngầm diesel-điện
Trọng tải choán nước
Chiều dài276 ft 6 in (84,3 m)[1]
Sườn ngang25 ft 6 in (7,8 m)
Mớn nước
  • 12 ft 9 in (3,89 m) (phía mũi)
  • 14 ft 7 in (4,45 m) (phía đuôi)
Động cơ đẩy
Tốc độ
Tầm xa8.000 nmi (15.000 km; 9.200 mi) ở tốc độ 10 kn (19 km/h; 12 mph)
Tầm hoạt động131 tấn nhiên liệu
Độ sâu thử nghiệm300 ft (91 m)[2]
Thủy thủ đoàn tối đa59[1]
Vũ khí
  • 11 × ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm) [1]
    • 6 × phía mũi
    • 5 × bên ngoài
    • 17 × ngư lôi
  • 1 × hải pháo QF 4 inch (101,6 mm) Mk XII [1]
  • 3 × súng máy .303-calibre[1]

HMS Thule (P325)[Ghi chú 1] là một tàu ngầm lớp T thuộc Nhóm III, được Hải quân Hoàng gia Anh chế tạo trong Chương trình Chế tạo 1941 trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nhập biên chế năm 1944, con tàu đã thực hiện được bảy chuyến tuần tra, hầu hết tại khu vực Viễn Đông, đánh chìm được nhiều thuyền buồm, sà lan và tàu duyên hải nhỏ. Thule sống sót qua cuộc xung đột, và tiếp tục phục vụ trong giai đoạn Chiến tranh Lạnh cho đến khi bị bán để tháo dỡ tại Inverkeithing vào tháng 9, 1962.

Thiết kế và chế tạo

Thiết kế

Sơ đồ ngang và đứng của một tàu ngầm lớp T Nhóm III tiêu biểu

Lớp tàu ngầm T được thiết kế nhằm mục đích thay thế cho các các lớp Odin, ParthianRainbow. Chúng có trọng lượng choán nước 1.090 tấn Anh (1.107 t) khi nổi và 1.575 tấn Anh (1.600 t) khi lặn, lườn tàu có chiều dài chung 276 ft 6 in (84,28 m), mạn tàu rộng 26 ft 6 in (8,08 m) và mớn nước sâu 14 ft 7 in (4,45 m). Thủy thủ đoàn đầy đủ bao gồm 59 sĩ quan và thủy thủ, và con tàu có thể lặn sâu đến 300 ft (91 m).[1]

Tàu ngầm lớp T được trang bị hai động cơ diesel có tổng công suất 2.500 mã lực phanh (1.864 kW), mỗi chiếc vận hành một trục chân vịt. Khi lặn, mỗi trục được vận hành bởi một động cơ điện công suất 725 mã lực (541 kW). Khi di chuyển trên mặt nước nó đạt tốc độ tối đa 15,25 hải lý trên giờ (28,24 km/h; 17,55 mph)9 hải lý trên giờ (17 km/h; 10 mph) khi lặn dưới nước. Chúng có tầm xa hoạt động đến 8.000 hải lý (15.000 km; 9.200 mi) ở tốc độ 10 hải lý trên giờ (19 km/h; 12 mph).[1]

Thule trang bị mười một ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm), gồm sáu ống bên trong và năm ống bên ngoài, với tám ống ra phía trước và ba ống còn lại hướng ra phía đuôi, và mang theo tổng cộng 17 quả ngư lôi. Vũ khí trên boong tàu là một khẩu hải pháo QF 4 inch (101,6 mm) Mk XII cùng ba khẩu súng máy .303-calibre cho mục đích phòng không.[1]

Chế tạo

Thule được đặt hàng vào ngày 6 tháng 6, 1941 trong khuôn khổ Chương trình Chế tạo 1941, và được đặt lườn tại Xưởng tàu Devonportvào ngày 20 tháng 9, 1941. Nó được hạ thủy vào ngày 22 tháng 10, 1942, và nhập biên chế cùng Hải quân Hoàng gia vào ngày 13 tháng 5, 1944 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Đại úy Hải quân Alastair C. G. Mars.[3] Nó là chiếc tàu chiến duy nhất của Hải quân Hoàng gia Anh được đặt cái tên này.

Lịch sử hoạt động

1944

Chuyến tuần tra thứ nhất

Sau khi thực hành huấn luyện tại các vùng biển Anh và Scotland, Thule xuất phát từ cảng Holy Loch vào ngày 2 tháng 8, 1944 cho chuyến tuần tra đầu tiên trong chiến tranh. Nó đã hoạt động chống tàu ngầm trong Bắc Đại Tây Dương về phía Tây Nam Iceland, và kết thúc chuyến tuần tra khi quay trở về Holy Loch vào ngày 13 tháng 8.[3]

Thule sau đó rời cảng Holy Loch vào ngày 4 tháng 9 để di chuyển sang Gibraltar do được điều động sang phục vụ tại Viễn Đông. Sau khi lần lượt đi ngang qua Malta, Port Said, kênh đào SuezAden, nó đi đến Trincomalee, Ceylon (nay là Sri Lanka) vào ngày 20 tháng 10.[3]

1945

Sau khi Đế quốc Nhật Bản đã chấp nhận đầu hàng giúp kết thúc cuộc xung đột, Thule tiếp tục ở lại khu vực Tây Úc để viếng thăm một số cảng cho đến hết tháng 9. Nó rời Fremantle vào giữa tháng 10 để đi sang Hong Kong, rồi đến đầu tháng 11 đã lên đường quay trở về Anh để đại tu, đến nơi vào cuối tháng 12.[3]

Sau chiến tranh

Thule tiếp tục phục vụ cùng Hải quân Hoàng gia Anh trong giai đoạn Chiến tranh Lạnh. Vào tháng 5, 1951, nó được phái sang Canada để huấn luyện phối hợp cùng Hải quân Hoàng gia Canada.[4] Vào ngày 18 tháng 11, 1960, Thule đang thực hành huấn luyện chống tàu ngầm ngoài khơi Portland trong thành phần Hải đội Tàu ngầm 5, thì mắc tai nạn va chạm với tàu chở dầu Black Ranger. Ống hơi của Thule bị gảy, đồng thời nó cũng bị hư hại kính tiềm vọng.[5][6]

Thule cuối cùng bị bán cho hãng Thos. W. Ward tại Inverkeithing, Scotland để tháo dỡ vào ngày 14 tháng 9, 1962.[3]

Tham khảo

Ghi chú

  1. Tên được đặt theo Thule, địa danh hư cấu trong văn chương Hy-La.

Chú thích

  1. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 Helgason, Guðmundur. "T class – Technical information". U-boat Types - uboat.net. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2026.
  2. Kemp (1990), tr. 22, 26.
  3. 1 2 3 4 5 Helgason, Guðmundur. "HMS Thule (P 325) – Submarine of the T Class". Allied Warships - uboat.net. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2025.
  4. "RN Submarine Loaned for Training Purposes". The Crowsnest. Quyển 3 số 7. King's Printer. tháng 5 năm 1951. tr. 3.
  5. Critchley (1981), tr. 46.
  6. "Submarine Thule involved in collision off Portland". Navy News. tháng 12 năm 1960. tr. 1.

Thư mục

Liên kết ngoài