HMS P311
| Lịch sử | |
|---|---|
| Tên gọi | HMS P311 |
| Đặt hàng | 2 tháng 9, 1940 |
| Xưởng đóng tàu | Vickers-Armstrongs, Barrow-in-Furness |
| Đặt lườn | 25 tháng 4, 1941 |
| Hạ thủy | 5 tháng 3, 1942 |
| Nhập biên chế | 7 tháng 8, 1942 |
| Số phận | Đắm do trúng thủy lôi trong biển Tyrrhnum, vào khoảng tháng 1, 1943 |
| Đặc điểm khái quát | |
| Lớp tàu | lớp T |
| Kiểu tàu | tàu ngầm diesel-điện |
| Trọng tải choán nước | |
| Chiều dài | 276 ft 6 in (84,3 m)[1] |
| Sườn ngang | 25 ft 6 in (7,8 m) |
| Mớn nước |
|
| Động cơ đẩy |
|
| Tốc độ |
|
| Tầm xa | 8.000 nmi (15.000 km; 9.200 mi) ở tốc độ 10 kn (19 km/h; 12 mph) |
| Tầm hoạt động | 131 tấn nhiên liệu |
| Độ sâu thử nghiệm | 300 ft (91 m)[2] |
| Thủy thủ đoàn tối đa | 59[1] |
| Vũ khí | |
HMS P311 là một tàu ngầm lớp T thuộc Nhóm III, được Hải quân Hoàng gia Anh chế tạo trong Chương trình Chế tạo 1940 trong Chiến tranh Thế giới thứ hai; nó là chiếc duy nhất của lớp T chưa kịp đặt tên dự định là Tutankhamen khi bị mất. Sau khi nhập biên chế năm 1942, con tàu chỉ thực hiện được một chuyến tuần tra duy nhất tại khu vực Địa Trung Hải, và không đánh chìm được mục tiêu nào trước khi mất tích trong biển Tyrrhenum vào khoảng cuối tháng 12, 1942 hay đầu tháng 1, 1943. Xác tàu đắm của P311 được tìm thấy vào năm 2016, được nhận định là đã bị đắm do trúng thủy lôi tại khu vực đảo Tavolara (phía Đông Bắc Sardegna).
Thiết kế và chế tạo
Thiết kế

Lớp tàu ngầm T được thiết kế nhằm mục đích thay thế cho các các lớp Odin, Parthian và Rainbow. Chúng có trọng lượng choán nước 1.090 tấn Anh (1.107 t) khi nổi và 1.575 tấn Anh (1.600 t) khi lặn, lườn tàu có chiều dài chung 276 ft 6 in (84,28 m), mạn tàu rộng 26 ft 6 in (8,08 m) và mớn nước sâu 14 ft 7 in (4,45 m). Thủy thủ đoàn đầy đủ bao gồm 59 sĩ quan và thủy thủ, và con tàu có thể lặn sâu đến 300 ft (91 m).[1]
Tàu ngầm lớp T được trang bị hai động cơ diesel có tổng công suất 2.500 mã lực phanh (1.864 kW), mỗi chiếc vận hành một trục chân vịt. Khi lặn, mỗi trục được vận hành bởi một động cơ điện công suất 725 mã lực (541 kW). Khi di chuyển trên mặt nước nó đạt tốc độ tối đa 15,25 hải lý trên giờ (28,24 km/h; 17,55 mph) và 9 hải lý trên giờ (17 km/h; 10 mph) khi lặn dưới nước. Chúng có tầm xa hoạt động đến 8.000 hải lý (15.000 km; 9.200 mi) ở tốc độ 10 hải lý trên giờ (19 km/h; 12 mph).[1]
P311 trang bị mười một ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm), gồm sáu ống bên trong và năm ống bên ngoài, với tám ống ra phía trước và ba ống còn lại hướng ra phía đuôi, và mang theo tổng cộng 17 quả ngư lôi. Vũ khí trên boong tàu là một khẩu hải pháo QF 4 inch (101,6 mm) Mk XII cùng ba khẩu súng máy .303-calibre cho mục đích phòng không.[1] P311 là một trong số duy nhất hai chiếc lớp T không được trang bị pháo phòng không Oerlikon 20 mm vào lúc nó hoàn tất.[Ghi chú 1]
Chế tạo
P311 được đặt hàng vào ngày 2 tháng 9, 1940 trong khuôn khổ Chương trình Chế tạo 1940, và được đặt lườn tại xưởng tàu của hãng Vickers-Armstrongs ở Barrow-in-Furness vào ngày 25 tháng 4, 1941. Nó được hạ thủy vào ngày 5 tháng 3, 1942, và nhập biên chế cùng Hải quân Hoàng gia vào ngày 7 tháng 8, 1942 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Thiếu tá Hải quân Richard D. Cayley.[3][4]
Đặt tên
Trong các bản ghi chú gửi cho Bộ Hải quân Anh vào các ngày 5 tháng 11, 19 và 27 tháng 12, 1942, Thủ tướng Winston Churchill yêu cầu mọi tàu ngầm cần phải được đặt tên thay vì số hiệu. Trong bản ghi chú sau cùng đó, ông cung cấp một danh sách các tên gợi ý, và nhấn mạnh rằng mọi tàu ngầm chưa có tên cần được đặt sớm nhất có thể. P311 được đặt tên Tutankhamen,[Ghi chú 2] trở thành chiếc tàu chiến duy nhất của Hải quân Anh được đặt cái tên này. Tuy nhiên P311 đã bị mất tại khu vực Địa Trung Hải vào cuối tháng 12, 1942 hoặc đằu tháng 1, 1943, trước khi chính thức được đặt tên, nên nó chỉ được gọi là tàu ngầm HMS P311 thay vì HMS Tutankhamen.[4]
Lịch sử hoạt động
Sau khi thực hành huấn luyện tại các vùng biển Anh và Scotland, P311 đi đến Portsmouth vào giữa tháng 9, 1942 và được cải biến tại Xưởng tàu Devonport để có thể mang theo các ngư lôi có người lái Chariot.[3] Sau khi hoàn tất, nó đi đến Port H. H. Z. vào đầu tháng 11, rồi khởi hành từ đây vào ngày 12 tháng 11 để đi sang khu vực Địa Trung Hải. Chiếc tàu ngầm được chỉ thị không ghé đến Gibraltar để tránh bị tình báo phe Trục phát hiện.[4]
Đi đến Malta vào ngày 30 tháng 11, P311 gia nhập Chi hạm đội Tàu ngầm 10 đặt căn cứ tại đây, và lên đường vào ngày 28 tháng 12 cho chuyến tuần tra duy nhất trong chiến tranh. Nó có nhiệm vụ đưa các ngư lôi có người lái Chariot đến cảng La Maddalena, Sardegna để tấn công các tàu tuần dương hạng nặng Gorizia và Trieste của Hải quân Ý đang neo đậu tại đây.[3][4][5][6]
Chiếc tàu ngầm liên lạc về căn cứ qua vô tuyến lần sau cùng tại tọa độ 38°10′B 11°30′Đ / 38,167°B 11,5°Đ vào ngày 31 tháng 12, và sau đó hoàn toần mất liên lạc.[4][7] Sau khi không quay trở về căn cứ theo hạn định vào ngày 8 tháng 1, 1943, P311 được cho là đã mất tích, và có thể đã mất du trúng thủy lôi tại các lối tiếp cận La Maddalena với tổn thất toàn bộ thủy thủ đoàn vào khoảng ngày 2 tháng 1.[4][7]
Khám phá xác tàu đắm
Vào cuối tháng 5, 2016, Bộ Hải quân Anh tuyên bố họ đang điều tra một xác tàu đắm được tim thấy gần đảo Tavolara bởi thợ lặn Massimo Domenico Bondone vào ngày 21 tháng 5, 2016. Bondone cho biết đã xác định xác tàu đắm là P311 dựa vào hai ngư lôi có người lái Chariot được chiếc tàu ngầm mang theo.[8][9][10]
Thi thể của 71 thành viên thủy thủ đoàn và tổ lái ngư lôi đã thiệt mạng vẫn còn lại bên trong tàu, được cho là chết do ngạt thở. Căn cứ theo những hình ảnh được công bố, xác tàu đắm đang ở trong tình trạng tốt,[11] ngoại trừ mũi tàu bị hư hại nặng do trúng thủy lôi.[12]
Tham khảo
Ghi chú
- ↑ Chiếc kia là tàu ngầm chị em HMS Trespasser
- ↑ Theo tên vị vua Ai Cập cổ đại Tutankhamun vào thế kỷ XIV trước Công Nguyên
Chú thích
- 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 Helgason, Guðmundur. "T class – Technical information". U-boat Types - uboat.net. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2026.
- ↑ Kemp (1990), tr. 22, 26.
- 1 2 3 Mason, Lt Cdr Geoffrey B. (ngày 30 tháng 11 năm 2010). "HMS P311 – T-class Submarine". Naval History. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2026.
- 1 2 3 4 5 6 Helgason, Guðmundur. "HMS P 311 (P 311) – Submarine of the T Class". Allied Warships - uboat.net. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2025.
- ↑ "Manned Submarines: Italy's Daredevil Torpedo Riders, 26 August 2015". warfarehistorynetwork.co. ngày 20 tháng 7 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 12 năm 2017.
- ↑ "Greatest World War II Weapons: Human Torpedo". Defencyclopedia. ngày 14 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2025.
- 1 2 Vogt, Andrea (ngày 25 tháng 5 năm 2016). "Legendary wreck of British Second World War submarine found off Sardinian coast". The Daily Telegraph. Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2016.
- ↑ "Tavolara, a cento metri di profondità sommergibile 'fantasma' inglese". Repubblica.it (bằng tiếng Ý). ngày 24 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2016.
- ↑ "Lost World War Two submarine claim investigated by Royal Navy". BBC News. ngày 26 tháng 5 năm 2016.
- ↑ "WWII submarine with 71 bodies inside found off Sardinian coast". metro.co.uk. ngày 25 tháng 5 năm 2016.
- ↑ "HMS P311 Pictures". International Business Times. ngày 25 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2016.
- ↑ "Lost WWII Submarine HMS P311 Found With 71 Bodies On Board". War History Online. ngày 26 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2016.
Thư mục
- Akermann, Paul (2002). Encyclopaedia of British Submarines 1901–1955 . Penzance, Cornwall: Periscope Publishing. ISBN 1-904381-05-7.
- Bagnasco, Erminio (1977). Submarines of World War Two. Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 0-87021-962-6.
- Chesneau, Roger, biên tập (1980). Conway's All the World's Fighting Ships 1922–1946. Greenwich, UK: Conway Maritime Press. ISBN 0-85177-146-7.
- Colledge, J. J.; Warlow, Ben (1969). Ships of the Royal Navy: the complete record of all fighting ships of the Royal Navy (Rev. ed.). London: Chatham. ISBN 978-1-86176-281-8. OCLC 67375475.
- Hutchinson, Robert (2001). Jane's Submarines: War Beneath the Waves from 1776 to the Present Day. London: HarperCollins. ISBN 978-0-00-710558-8. OCLC 53783010.
- Kemp, Paul J. (1990). The T-class Submarine: The Classic British Design. Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 1-55750-826-7. OCLC 22575300.
- McCartney, Innes (2006). British Submarines 1939–1945. New Vanguard. Quyển 129. Oxford, UK: Osprey. ISBN 1-84603-007-2.
- Rohwer, Jürgen (2005). Chronology of the War at Sea 1939–1945: The Naval History of World War Two . Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 1-59114-119-2.
Liên kết ngoài
- Helgason, Guðmundur. "T class – Technical information". U-boat Types - uboat.net. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2026.
- Mason, Lt Cdr Geoffrey B. (ngày 30 tháng 11 năm 2010). "HMS P311 – T-class Submarine". Naval History. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2026.
- Helgason, Guðmundur. "HMS P 311 (P 311) – Submarine of the T Class". Allied Warships - uboat.net. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2025.
- Lớp tàu ngầm Anh T
- Tàu ngầm của Hải quân Hoàng gia Anh trong Thế Chiến II
- Tàu ngầm bị đánh chìm bởi thủy lôi
- Xác tàu đắm trong Thế Chiến II trong Địa Trung Hải
- Sự cố hàng hải năm 1943
- Tàu thủy năm 1942