Bước tới nội dung

HMS Taciturn (P334)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Tàu ngầm HMS Taciturn (P334), 1 tháng 11 năm 1946
Lịch sử
Anh Quốc
Tên gọiHMS Taciturn (P334)
Đặt hàng20 tháng 12, 1941
Xưởng đóng tàuVickers-Armstrongs, Barrow-in-Furness
Đặt lườn9 tháng 3, 1943
Hạ thủy7 tháng 6, 1944
Nhập biên chế8 tháng 10, 1944
Số phậnBán để tháo dỡ, tháng 8, 1971
Đặc điểm khái quát
Lớp tàulớp T
Kiểu tàutàu ngầm diesel-điện
Trọng tải choán nước
Chiều dài276 ft 6 in (84,3 m)[1]
Sườn ngang25 ft 6 in (7,8 m)
Mớn nước
  • 12 ft 9 in (3,89 m) (phía mũi)
  • 14 ft 7 in (4,45 m) (phía đuôi)
Động cơ đẩy
Tốc độ
Tầm xa8.000 nmi (15.000 km; 9.200 mi) ở tốc độ 10 kn (19 km/h; 12 mph)
Tầm hoạt động131 tấn nhiên liệu
Độ sâu thử nghiệm300 ft (91 m)[2]
Thủy thủ đoàn tối đa59[1]
Vũ khí
  • 11 × ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm) [1]
    • 6 × phía mũi
    • 5 × bên ngoài
    • 17 × ngư lôi
  • 1 × hải pháo QF 4 inch (101,6 mm) Mk XII [1]
  • 3 × súng máy .303-calibre[1]

HMS Taciturn (P334) là một tàu ngầm lớp T thuộc Nhóm III, được Hải quân Hoàng gia Anh chế tạo trong Chương trình Chế tạo 1941 trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nhập biên chế năm 1944, con tàu đã thực hiện được ba chuyến tuần tra, hầu hết tại khu vực Viễn Đông, đánh chìm được một tàu chiến tải trọng 130 tấn cùng các thuyền buồm và tàu duyên hải nhỏ khác. Taciturn sống sót qua cuộc xung đột và tiếp tục phục vụ trong giai đoạn Chiến tranh Lạnh, cho đến khi bị bán để tháo dỡ vào tháng 8, 1941.

Thiết kế và chế tạo

Thiết kế

Sơ đồ ngang và đứng của một tàu ngầm lớp T Nhóm III tiêu biểu

Lớp tàu ngầm T được thiết kế nhằm mục đích thay thế cho các các lớp Odin, ParthianRainbow. Chúng có trọng lượng choán nước 1.090 tấn Anh (1.107 t) khi nổi và 1.575 tấn Anh (1.600 t) khi lặn, lườn tàu có chiều dài chung 276 ft 6 in (84,28 m), mạn tàu rộng 26 ft 6 in (8,08 m) và mớn nước sâu 14 ft 7 in (4,45 m). Thủy thủ đoàn đầy đủ bao gồm 59 sĩ quan và thủy thủ, và con tàu có thể lặn sâu đến 300 ft (91 m).[1]

Tàu ngầm lớp T được trang bị hai động cơ diesel có tổng công suất 2.500 mã lực phanh (1.864 kW), mỗi chiếc vận hành một trục chân vịt. Khi lặn, mỗi trục được vận hành bởi một động cơ điện công suất 725 mã lực (541 kW). Khi di chuyển trên mặt nước nó đạt tốc độ tối đa 15,25 hải lý trên giờ (28,24 km/h; 17,55 mph)9 hải lý trên giờ (17 km/h; 10 mph) khi lặn dưới nước. Chúng có tầm xa hoạt động đến 8.000 hải lý (15.000 km; 9.200 mi) ở tốc độ 10 hải lý trên giờ (19 km/h; 12 mph).[1]

Taciturn trang bị mười một ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm), gồm sáu ống bên trong và năm ống bên ngoài, với tám ống ra phía trước và ba ống còn lại hướng ra phía đuôi, và mang theo tổng cộng 17 quả ngư lôi. Vũ khí trên boong tàu là một khẩu hải pháo QF 4 inch (101,6 mm) Mk XII cùng ba khẩu súng máy .303-calibre cho mục đích phòng không.[1]

Chế tạo

Taciturn được đặt hàng vào ngày 20 tháng 12, 1941 trong khuôn khổ Chương trình Chế tạo 1941, và được đặt lườn tại xưởng tàu của hãng Vickers-Armstrongs ở Barrow-in-Furness vào ngày 9 tháng 3, 1943. Nó được hạ thủy vào ngày 7 tháng 6, 1944, và nhập biên chế cùng Hải quân Hoàng gia vào ngày 8 tháng 10, 1944 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Đại úy Hải quân Edward T. Stanley.[3] Nó là chiếc tàu chiến duy nhất của Hải quân Hoàng gia Anh được đặt cái tên này.

Lịch sử hoạt động

1945

Chuyến tuần tra thứ nhất

Sau khi hoàn tất việc chạy thử máy và huấn luyện tại các vùng biển Anh và Scotland, Taciturn xuất phát từ cảng Lerwick vào ngày 23 tháng 1, 1945 cho chuyến tuần tra đầu tiên trong chiến tranh. Nó đã hoạt động chống tàu ngầm tại khu vực Bắc Hải về phía Đông Nam quần đảo Shetland, và kết thúc chuyến tuần tra khi quay trở về Lerwick vào ngày 30 tháng 1.[3]

Taciturn rời cảng Holy Loch vào ngày 21 tháng 2 do được điều động sang phục vụ tại Viễn Đông. Sau khi đã lần lượt đi ngang qua Gibraltar, Malta, Port Said, kênh đào Suez, Aden, ColomboTrincomalee, nó đi đến Fremantle Australia vào ngày 23 tháng 4.[3]

Chuyến tuần tra thứ hai

Taciturn xuất phát từ Fremantle vào ngày 13 tháng 5 cho chuyến tuần tra thứ hai, và phối hợp cùng các tàu ngầm chị em HMS TrenchantHMS Thorough để hoạt động tại các khu vực biển Java và phía Nam biển Đông. Vào ngày 29 tháng 5, nó phóng ba quả ngư lôi tấn công một tàu săn ngầm Nhật Bản dọc bờ biển phía Bắc Java nhưng không trúng đích. Chiếc tàu ngầm sau đó bị đối phương phản công bằng mìn sâu, và bị hư hại nhẹ. Đến ngày 16 tháng 6, ở vị trí về phía Bắc Surabaya, Đông Ấn thuộc Hà Lan, nó đánh chìm một tàu cảnh báo phòng không (nguyên là tàu ngầm Hà Lan K XVIII được trục vớt) và tàu săn ngầm Cha 105 (130 tấn) bằng hải pháo, rồi sang ngày hôm sau lại đánh chìm một tàu schooner cùng tại vị trí này. Taciturn kết thúc chuyến tuần tra khi quay trở về Fremantle vào ngày 27 tháng 6.[3]

Chuyến tuần tra thứ ba

Taciturn khởi hành từ Fremantle vào ngày 25 tháng 7 cho chuyến tuần tra thứ ba, và hoạt động tại khu vực biển Java. Vào ngày 1 tháng 8, nó đánh chìm hai thuyền buồm bằng hải pháo ở phía Bắc Bali, rồi phối hợp cùng tàu ngầm Thorough bắn phá các cơ sở trên bờ. Nó kết thúc chuyến tuần tra tại Fremantle vào ngày 21 tháng 8.[3]

Sau khi Đế quốc Nhật Bản chấp nhận đầu hàng giúp kết thúc cuộc xung đột, Taciturn tiếp tục ở lại vùng biển phía Tây Australia để viếng thăm các cảng tại đây trước khi quay trở về Anh.[3]

Tóm tắt chiến công

Taciturn đã đánh chìm được một tàu chiến tải trọng 130 tấn.[3]

NgàyTên tàuQuốc tịchTải trọng[Ghi chú 1]Số phận
16 tháng 6, 1945Cha 105 Hải quân Nhật Bản130Bị đánh chìm

Tham khảo

Ghi chú

  1. Tàu buôn theo tấn đăng ký toàn phần. Tàu quân sự theo trọng lượng choán nước.

Chú thích

  1. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 Helgason, Guðmundur. "T class – Technical information". U-boat Types - uboat.net. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2026.
  2. Kemp (1990), tr. 22, 26.
  3. 1 2 3 4 5 6 7 Helgason, Guðmundur. "HMS Taciturn (P 334) – Submarine of the T Class". Allied Warships - uboat.net. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2025.

Thư mục

Liên kết ngoài