Bước tới nội dung

HMS Tally-Ho (P317)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Tàu ngầm HMS Tally-Ho (P317) tháng 5 năm 1943
Lịch sử
Anh Quốc
Tên gọiHMS Tally-Ho (P317)
Đặt tên theoTally-ho
Đặt hàng4 tháng 11, 1940
Xưởng đóng tàuVickers-Armstrongs, Barrow-in-Furness
Đặt lườn25 tháng 3, 1941
Hạ thủy23 tháng 12, 1942
Nhập biên chế12 tháng 4, 1943
Số phậnBán để tháo dỡ, tháng 2, 1967
Đặc điểm khái quát
Lớp tàulớp T
Kiểu tàutàu ngầm diesel-điện
Trọng tải choán nước
Chiều dài276 ft 6 in (84,3 m)[1]
Sườn ngang25 ft 6 in (7,8 m)
Mớn nước
  • 12 ft 9 in (3,89 m) (phía mũi)
  • 14 ft 7 in (4,45 m) (phía đuôi)
Động cơ đẩy
Tốc độ
Tầm xa8.000 nmi (15.000 km; 9.200 mi) ở tốc độ 10 kn (19 km/h; 12 mph)
Tầm hoạt động131 tấn nhiên liệu
Độ sâu thử nghiệm300 ft (91 m)[2]
Thủy thủ đoàn tối đa59[1]
Vũ khí
  • 11 × ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm) [1]
    • 6 × phía mũi
    • 5 × bên ngoài
    • 17 × ngư lôi
  • 1 × hải pháo QF 4 inch (101,6 mm) Mk XII [1]
  • 3 × súng máy .303-calibre[1]

HMS Tally-Ho (P317)[Ghi chú 1] là một tàu ngầm lớp T thuộc Nhóm III, được Hải quân Hoàng gia Anh chế tạo trong Chương trình Chế tạo 1940 trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nhập biên chế năm 1943, con tàu đã thực hiện được mười chuyến hai tuần tra tại các khu vực Đại Tây Dương, Địa Trung HảiViễn Đông, đánh chìm được ba tàu buôn có tổng tải trọng 5.387 GRT cùng hai tàu chiến và hai tàu chiến phụ trợ có tổng tải trọng 6.530 tấn và 345 GRT, đồng thời gây hư hại cho một tàu buôn tải trọng 1.945 GRT. Tally-Ho sống sót qua cuộc xung đột, rồi tiếp tục phục vụ cùng Hải quân Hoàng gia trong giai đoạn Chiến tranh Lạnh, và cuối cùng bị bán để tháo dỡ vào tháng 2, 1967.

Thiết kế và chế tạo

Thiết kế

Sơ đồ ngang và đứng của một tàu ngầm lớp T Nhóm III tiêu biểu

Lớp tàu ngầm T được thiết kế nhằm mục đích thay thế cho các các lớp Odin, ParthianRainbow. Chúng có trọng lượng choán nước 1.090 tấn Anh (1.107 t) khi nổi và 1.575 tấn Anh (1.600 t) khi lặn, lườn tàu có chiều dài chung 276 ft 6 in (84,28 m), mạn tàu rộng 26 ft 6 in (8,08 m) và mớn nước sâu 14 ft 7 in (4,45 m). Thủy thủ đoàn đầy đủ bao gồm 59 sĩ quan và thủy thủ, và con tàu có thể lặn sâu đến 300 ft (91 m).[1]

Tàu ngầm lớp T được trang bị hai động cơ diesel có tổng công suất 2.500 mã lực phanh (1.864 kW), mỗi chiếc vận hành một trục chân vịt. Khi lặn, mỗi trục được vận hành bởi một động cơ điện công suất 725 mã lực (541 kW). Khi di chuyển trên mặt nước nó đạt tốc độ tối đa 15,25 hải lý trên giờ (28,24 km/h; 17,55 mph)9 hải lý trên giờ (17 km/h; 10 mph) khi lặn dưới nước. Chúng có tầm xa hoạt động đến 8.000 hải lý (15.000 km; 9.200 mi) ở tốc độ 10 hải lý trên giờ (19 km/h; 12 mph).[1]

Tally-Ho trang bị mười một ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm), gồm sáu ống bên trong và năm ống bên ngoài, với tám ống ra phía trước và ba ống còn lại hướng ra phía đuôi, và mang theo tổng cộng 17 quả ngư lôi. Vũ khí trên boong tàu là một khẩu hải pháo QF 4 inch (101,6 mm) Mk XII cùng ba khẩu súng máy .303-calibre cho mục đích phòng không.[1]

Chế tạo

Tally-Ho được đặt hàng vào ngày 4 tháng 11, 1940 trong khuôn khổ Chương trình Chế tạo 1940, và được đặt lườn tại xưởng tàu của hãng Vickers-Armstrongs ở Barrow-in-Furness vào ngày 25 tháng 3, 1941. Nó được hạ thủy vào ngày 23 tháng 12, 1942, và nhập biên chế cùng Hải quân Hoàng gia vào ngày 12 tháng 4, 1943 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Thiếu tá Hải quân Leslie W. A. Bennington.[3][4] Nó là chiếc tàu chiến duy nhất của Hải quân Hoàng gia Anh được đặt cái tên này.[3]

Lịch sử hoạt động

1943

Chuyến tuần tra thứ nhất

Sau khi thực hành huấn luyện tại các vùng biển Anh và Scotland, Tally-Ho xuất phát từ cảng Lerwick vào ngày 31 tháng 5, 1943 cho chuyến tuần tra đầu tiên trong chiến tranh. Nó đã hoạt động chống tàu ngầm tại vùng biển Na Uy về phía Đông Bắc quần đảo Faroe, rồi kết thúc chuyến tuần tra và quay trở về Lerwick vào ngày 17 tháng 6.[4]

1945

Tally-Ho rời Trincomalee vào ngày 3 tháng 12, 1944 để quay trở về Anh cho một lượt đại tu. Sau hành trình dài lần lượt đi ngang qua Aden, kênh đào Suez, Port Said, Malta và Gibraltar, nó về đến Portsmouth vào ngày 19 tháng 1, 1945.[3][4] Con tàu được đại tu tại xưởng tàu của hãng Swan Hunter, Wallsend-on-Tyne từ giữa tháng 2 đến cuối tháng 7, 1945. Công việc hoàn tất chỉ ít lâu trước khi Thế Chiến II kết thúc.[3][4]

Sau chiến tranh

Tally-Ho tiếp tục phục vụ cùng Hải quân Hoàng gia trong giai đoạn Chiến tranh Lạnh, và gia nhập Chi hạm đội Tàu ngầm 6 đặt căn cứ tại Australia.[5]</ref>[6] Nó được điều sang Chi hạm đội Tàu ngầm 3 đặt căn cứ tại Rothesay, Scotland vào năm 1947,[6] và đến tháng 7, 1949 được phái sang Canada để thay phiên cho chiếc HMS Tudor trong nhiệm vụ huấn luyện chống tàu ngầm phối hợp cùng Hải quân Hoàng gia Canada.[7][8]

Sau đó Tally-Ho chuyển sang phục vụ cùng Hải đội Châu Mỹ và Tây Ấn,[7] rồi đến năm 1953 đã tham gia cuộc Duyệt binh Hạm đội nhân lễ đăng quang của Nữ hoảng Elizabeth II.[9] Chiếc tàu ngầm lại có một lượt phục vụ khác tại Canada vào năm 1954,[6] và đã từng thực hiện một chuyến đi ngầm hoàn toàn dưới mặt nước sử dụng ống hơi từ Bermuda quay trở về Anh trong suốt ba tuần lễ.

Tally-Ho cuối cùng bị bán cho hãng Thos. W. Ward, và được tháo dỡ tại Briton Ferry, Wales từ ngày 10 tháng 2, 1967.[4]

Tóm tắt chiến công

Tally-Ho đã đánh chìm được ba tàu buôn có tổng tải trọng 5.387 GRT cùng hai tàu chiến và hai tàu chiến phụ trợ có tổng tải trọng 6.530 tấn và 345 GRT, đồng thời gây hư hại cho một tàu buôn tải trọng 1.945 GRT.[4]

NgàyTên tàuQuốc tịchTải trọng[Ghi chú 2]Số phận
10 tháng 11, 1943Kisogawa Maru Nhật Bản1.914Bị đánh chìm
11 tháng 1, 1944Kuma Hải quân Nhật Bản5.500Bị đánh chìm
15 tháng 1, 1944Ryuko Maru Nhật Bản2.963Bị đánh chìm
15 tháng 2, 1944UIT-23 Hải quân Đức Quốc xã1.030Bị đánh chìm
21 tháng 2, 1944Daigen Maru số 6 Nhật Bản510Bị đánh chìm
18 tháng 5, 1944Nichiyoku Maru Nhật Bản1.945Bị hư hại (mìn)
6 tháng 10, 1944Cha-2 Hải quân Nhật Bản130Bị đánh chìm
20 tháng 11, 1944Ma 4 Hải quân Nhật Bản215Bị đánh chìm

Tham khảo

Ghi chú

  1. Tally-ho nguyên là tiếng hô trong các cuộc săn cáo để báo hiệu đã nhìn thấy con mồi, sau này được phi công máy bay tiêm kích dùng để báo cho đồng đội đã tìm thấy hoặc sắp tấn công mục tiêu trong không chiến.
  2. Tàu buôn theo tấn đăng ký toàn phần. Tàu quân sự theo trọng lượng choán nước.

Chú thích

  1. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 Helgason, Guðmundur. "T class – Technical information". U-boat Types - uboat.net. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2026.
  2. Kemp (1990), tr. 22, 26.
  3. 1 2 3 4 Mason, Lt Cdr Geoffrey B. (ngày 30 tháng 11 năm 2010). "HMS Tally-Ho – T-class Submarine". Naval History. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2026.
  4. 1 2 3 4 5 6 Helgason, Guðmundur. "HMS Tally-Ho (P 317) – Submarine of the T Class". Allied Warships - uboat.net. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2025.
  5. Kemp (1990), tr. 118.
  6. 1 2 3 "H.M.S. Tally-Ho lived up to her name: Steamed 211,630 Miles During her Eventful Career". Navy News. tháng 3 năm 1960. tr. 8.
  7. 1 2 "Swansea, Submarine Visit Saint John". The Crowsnest. Quyển 2 số 1. King's Printer. tháng 11 năm 1949. tr. 2–3.
  8. "The Year in Review". The Crowsnest. Quyển 2 số 2. King's Printer. tháng 12 năm 1949. tr. 2–4.
  9. Souvenir Programme, Coronation Review of the Fleet, Spithead, 15th June 1953, HMSO, Gale and Polden

Thư mục

Liên kết ngoài