HMS Tantivy (P319)
Tàu ngầm HMS Tantivy (P319) tại Barrow-in-Furness, ngày 22 tháng 7 năm 1943 | |
| Lịch sử | |
|---|---|
| Tên gọi | HMS Tantivy (P319) |
| Đặt hàng | 4 tháng 11, 1940 |
| Xưởng đóng tàu | Vickers-Armstrongs, Barrow-in-FurnessXưởng tàu Chatham Cammell Laird, Birkenhead |
| Đặt lườn | 4 tháng 7, 1942 |
| Hạ thủy | 6 tháng 4, 1943 |
| Nhập biên chế | 25 tháng 7, 1943 |
| Số phận | Đánh chìm như mục tiêu, 1951 |
| Đặc điểm khái quát | |
| Lớp tàu | lớp T |
| Kiểu tàu | tàu ngầm diesel-điện |
| Trọng tải choán nước | |
| Chiều dài | 276 ft 6 in (84,3 m)[1] |
| Sườn ngang | 25 ft 6 in (7,8 m) |
| Mớn nước |
|
| Động cơ đẩy |
|
| Tốc độ |
|
| Tầm xa | 8.000 nmi (15.000 km; 9.200 mi) ở tốc độ 10 kn (19 km/h; 12 mph) |
| Tầm hoạt động | 131 tấn nhiên liệu |
| Độ sâu thử nghiệm | 300 ft (91 m)[2] |
| Thủy thủ đoàn tối đa | 59[1] |
| Vũ khí | |
HMS Tantivy (P319) là một tàu ngầm lớp T thuộc Nhóm III, được Hải quân Hoàng gia Anh chế tạo trong Chương trình Chế tạo 1940 trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nhập biên chế năm 1943, con tàu đã thực hiện được chín chuyến tuần tra, hầu hết tại khu vực Viễn Đông, đánh chìm được năm tàu buôn có tổng tải trọng 2.415 GRT. Tantivy sống sót qua cuộc xung đột, tiếp tục phục vụ trong giai đoạn Chiến tranh Lạnh, và cuối cùng bị đánh chìm như một mục tiêu thực hành chống tàu ngầm vào năm 1951.
Thiết kế và chế tạo
Thiết kế

Lớp tàu ngầm T được thiết kế nhằm mục đích thay thế cho các các lớp Odin, Parthian và Rainbow. Chúng có trọng lượng choán nước 1.090 tấn Anh (1.107 t) khi nổi và 1.575 tấn Anh (1.600 t) khi lặn, lườn tàu có chiều dài chung 276 ft 6 in (84,28 m), mạn tàu rộng 26 ft 6 in (8,08 m) và mớn nước sâu 14 ft 7 in (4,45 m). Thủy thủ đoàn đầy đủ bao gồm 59 sĩ quan và thủy thủ, và con tàu có thể lặn sâu đến 300 ft (91 m).[1]
Tàu ngầm lớp T được trang bị hai động cơ diesel có tổng công suất 2.500 mã lực phanh (1.864 kW), mỗi chiếc vận hành một trục chân vịt. Khi lặn, mỗi trục được vận hành bởi một động cơ điện công suất 725 mã lực (541 kW). Khi di chuyển trên mặt nước nó đạt tốc độ tối đa 15,25 hải lý trên giờ (28,24 km/h; 17,55 mph) và 9 hải lý trên giờ (17 km/h; 10 mph) khi lặn dưới nước. Chúng có tầm xa hoạt động đến 8.000 hải lý (15.000 km; 9.200 mi) ở tốc độ 10 hải lý trên giờ (19 km/h; 12 mph).[1]
Tantivy trang bị mười một ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm), gồm sáu ống bên trong và năm ống bên ngoài, với tám ống ra phía trước và ba ống còn lại hướng ra phía đuôi, và mang theo tổng cộng 17 quả ngư lôi. Vũ khí trên boong tàu là một khẩu hải pháo QF 4 inch (101,6 mm) Mk XII cùng ba khẩu súng máy .303-calibre cho mục đích phòng không.[1]
Chế tạo
Tantivy được đặt hàng vào ngày 4 tháng 11, 1940 trong khuôn khổ Chương trình Chế tạo 1940, và được đặt lườn tại xưởng tàu của hãng Cammell Laird ở Birkenhead vào ngày 4 tháng 7, 1942. Nó được hạ thủy vào ngày 6 tháng 4, 1943, và nhập biên chế cùng Hải quân Hoàng gia vào ngày 25 tháng 7, 1943 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Trung tá Hải quân Michael G. Rimington.[3][4] Nó là chiếc tàu chiến duy nhất của Hải quân Hoàng gia Anh được đặt cái tên này.[3]
Lịch sử hoạt động
1943
Chuyến tuần tra thứ nhất
Sau khi thực hành huấn luyện tại các vùng biển Anh và Scotland, Tantivy xuất phát từ Lerwick vào ngày 20 tháng 10 cho chuyến tuần tra đầu tiên trong chiến tranh. Nó đã hoạt động dọc bờ biển Na Uy ngoài khơi Trondheim trước khi quay trở về Lerwick vào ngày 30 tháng 10.[4]
Chiếc tàu ngầm sau đó được bảo trì tại Xưởng tàu Chatham trong suốt tháng 12.[4]
1944
Do được điều động sang phục vụ tại Viễn Đông, Tantivy rời cảng Plymouth vào ngày 6 tháng 1¸ 1944 để di chuyển sang Gibraltar, chặng đầu tiên của hành trình đi sang phía Đông.[3] Sau khi lần lượt ghé qua Port Said, kênh đào Suez và Aden, nó đi đến Trincomalee, Ceylon (nay là Sri Lanka) vào ngày 22 tháng 2.[4]
1945
Chuyến tuần tra thứ chín
Tantivy lại xuất phát từ Fremantle vào ngày 14 tháng 1, 1945 để hoạt động tại khu vực eo biển Sunda. Nó dự định sẽ làm nhiệm vụ tìm kiếm và giải giải cứu hỗ trợ cho Chiến dịch Meridian, cuộc không kích của các tàu sân bay thuộc Hạm đội Đông xuống các cơ sở lọc dầu tại khu vực Palembang về phía Đông Nam Sumatra. Tuy nhiên những trục trặc kỹ thuật gặp phải khiến chiếc tàu ngầm không thể đến nơi đúng hẹn. Đến ngày 3 tháng 2, nó đánh chìm một tàu kéo và hai tàu duyên hải bằng hải pháo trong eo biển Sunda, rồi kết thúc chuyến tuần tra cuối cùng này khi đi đến Trincomalee, Ceylon vào ngày 14 tháng 2.[4]
Tantivy rời Trincomalee vào ngày 2 tháng 3 cho hành trình quay trở về Anh để được đại tu và tái trang bị.[3] Sau khi đã lần lượt ghé qua Aden, kênh đào Suez, Port Said, Malta và Gibraltar, nó về đến Portsmouth vào ngày 19 tháng 4.[4] Nó được đại tu tại Xưởng tàu Chatham từ cuối tháng 4, và công việc vẫn chưa hoàn tất khi Thế Chiến II kết thúc.[4]
Sau chiến tranh
Tantivy tiếp tục phục vụ cùng Hải quân Hoàng gia trong giai đoạn Chiến tranh Lạnh, cho đến khi bị đánh chìm như một mục tiêu thực hành chống tàu ngầm ngoài khơi Cromarty vào năm 1951.[4]
Tóm tắt chiến công
Tantivy đã đánh chìm được năm tàu buôn có tổng tải trọng 2.415 GRT.[4]
| Ngày | Tên tàu | Quốc tịch | Tải trọng[Ghi chú 1] | Số phận |
|---|---|---|---|---|
| 5 tháng 9, 1944 | Shiretoko Maru | 1.799 | Bị đánh chìm | |
| 21 tháng 10, 1944 | Chokyu Maru số 2 | 136 | Bị đánh chìm | |
| 21 tháng 10, 1944 | Takasago Maru số 3 | 82 | Bị đánh chìm | |
| 21 tháng 10, 1944 | Otori Maru | 198 | Bị đánh chìm | |
| 22 tháng 10, 1944 | Số 137 | 200 | Bị đánh chìm |
Tham khảo
Ghi chú
- ↑ Tàu buôn theo tấn đăng ký toàn phần. Tàu quân sự theo trọng lượng choán nước.
Chú thích
- 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 Helgason, Guðmundur. "T class – Technical information". U-boat Types - uboat.net. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2026.
- ↑ Kemp (1990), tr. 22, 26.
- 1 2 3 4 Mason, Lt Cdr Geoffrey B. (ngày 30 tháng 11 năm 2010). "HMS Tantivy – T-class Submarine". Naval History. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2026.
- 1 2 3 4 5 6 7 8 9 Helgason, Guðmundur. "HMS Tantivy (P 319) – Submarine of the T Class". Allied Warships - uboat.net. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2025.
Thư mục
- Akermann, Paul (2002). Encyclopaedia of British Submarines 1901–1955 . Penzance, Cornwall: Periscope Publishing. ISBN 1-904381-05-7.
- Bagnasco, Erminio (1977). Submarines of World War Two. Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 0-87021-962-6.
- Chesneau, Roger, biên tập (1980). Conway's All the World's Fighting Ships 1922–1946. Greenwich, UK: Conway Maritime Press. ISBN 0-85177-146-7.
- Colledge, J. J.; Warlow, Ben (1969). Ships of the Royal Navy: the complete record of all fighting ships of the Royal Navy (Rev. ed.). London: Chatham. ISBN 978-1-86176-281-8. OCLC 67375475.
- Hutchinson, Robert (2001). Jane's Submarines: War Beneath the Waves from 1776 to the Present Day. London: HarperCollins. ISBN 978-0-00-710558-8. OCLC 53783010.
- Kemp, Paul J. (1990). The T-class Submarine: The Classic British Design. Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 1-55750-826-7. OCLC 22575300.
- McCartney, Innes (2006). British Submarines 1939–1945. New Vanguard. Quyển 129. Oxford, UK: Osprey. ISBN 1-84603-007-2.
- Rohwer, Jürgen (2005). Chronology of the War at Sea 1939–1945: The Naval History of World War Two . Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 1-59114-119-2.
Liên kết ngoài
- Helgason, Guðmundur. "T class – Technical information". U-boat Types - uboat.net. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2026.
- Mason, Lt Cdr Geoffrey B. (ngày 30 tháng 11 năm 2010). "HMS Tantivy – T-class Submarine". Naval History. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2026.
- Helgason, Guðmundur. "HMS Tantivy (P 319) – Submarine of the T Class". Allied Warships - uboat.net. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2025.
- Lớp tàu ngầm Anh T
- Tàu ngầm của Hải quân Hoàng gia Anh trong Thế Chiến II
- Tàu ngầm của Hải quân Hoàng gia Anh trong Chiến tranh Lạnh
- Tàu bị đánh chìm như mục tiêu
- Xác tàu đắm tại Bắc Hải
- Sự cố hàng hải năm 1951
- Tàu thủy năm 1943