HMS Tantalus (P318)
Tàu ngầm HMS Tantalus (P318) ngoài khơi Plymouth, tháng 8 năm 1948 | |
| Lịch sử | |
|---|---|
| Tên gọi | HMS Tantalus (P318) |
| Đặt tên theo | Tantalus |
| Đặt hàng | 4 tháng 11, 1940 |
| Xưởng đóng tàu | Vickers-Armstrongs, Barrow-in-Furness |
| Đặt lườn | 6 tháng 6, 1942 |
| Hạ thủy | 24 tháng 2, 1943 |
| Nhập biên chế | 2 tháng 6, 1943 |
| Số phận | Bán để tháo dỡ, tháng 11, 1950 |
| Đặc điểm khái quát | |
| Lớp tàu | lớp T |
| Kiểu tàu | tàu ngầm diesel-điện |
| Trọng tải choán nước | |
| Chiều dài | 276 ft 6 in (84,3 m)[1] |
| Sườn ngang | 25 ft 6 in (7,8 m) |
| Mớn nước |
|
| Động cơ đẩy |
|
| Tốc độ |
|
| Tầm xa | 8.000 nmi (15.000 km; 9.200 mi) ở tốc độ 10 kn (19 km/h; 12 mph) |
| Tầm hoạt động | 131 tấn nhiên liệu |
| Độ sâu thử nghiệm | 300 ft (91 m)[2] |
| Thủy thủ đoàn tối đa | 59[1] |
| Vũ khí | |
HMS Tantalus (P318)[Ghi chú 1] là một tàu ngầm lớp T thuộc Nhóm III, được Hải quân Hoàng gia Anh chế tạo trong Chương trình Chế tạo 1940 trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nhập biên chế năm 1943, con tàu đã thực hiện được bảy chuyến tuần tra, hầu hết tại khu vực Viễn Đông, đánh chìm được bảy tàu buôn có tổng tải trọng 6.636 GRT, đồng thời gây hư hại cho một tàu chiến phụ trợ tải trọng 266 GRT. Tantalus sống sót qua cuộc xung đột, tiếp tục phục vụ trong giai đoạn Chiến tranh Lạnh, và cuối cùng bị bán để tháo dỡ vào tháng 11, 1950.
Thiết kế và chế tạo
Thiết kế

Lớp tàu ngầm T được thiết kế nhằm mục đích thay thế cho các các lớp Odin, Parthian và Rainbow. Chúng có trọng lượng choán nước 1.090 tấn Anh (1.107 t) khi nổi và 1.575 tấn Anh (1.600 t) khi lặn, lườn tàu có chiều dài chung 276 ft 6 in (84,28 m), mạn tàu rộng 26 ft 6 in (8,08 m) và mớn nước sâu 14 ft 7 in (4,45 m). Thủy thủ đoàn đầy đủ bao gồm 59 sĩ quan và thủy thủ, và con tàu có thể lặn sâu đến 300 ft (91 m).[1]
Tàu ngầm lớp T được trang bị hai động cơ diesel có tổng công suất 2.500 mã lực phanh (1.864 kW), mỗi chiếc vận hành một trục chân vịt. Khi lặn, mỗi trục được vận hành bởi một động cơ điện công suất 725 mã lực (541 kW). Khi di chuyển trên mặt nước nó đạt tốc độ tối đa 15,25 hải lý trên giờ (28,24 km/h; 17,55 mph) và 9 hải lý trên giờ (17 km/h; 10 mph) khi lặn dưới nước. Chúng có tầm xa hoạt động đến 8.000 hải lý (15.000 km; 9.200 mi) ở tốc độ 10 hải lý trên giờ (19 km/h; 12 mph).[1]
Tantalus trang bị mười một ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm), gồm sáu ống bên trong và năm ống bên ngoài, với tám ống ra phía trước và ba ống còn lại hướng ra phía đuôi, và mang theo tổng cộng 17 quả ngư lôi. Vũ khí trên boong tàu là một khẩu hải pháo QF 4 inch (101,6 mm) Mk XII cùng ba khẩu súng máy .303-calibre cho mục đích phòng không.[1]
Chế tạo
Tantalus được đặt hàng vào ngày 4 tháng 11, 1940 trong khuôn khổ Chương trình Chế tạo 1940, và được đặt lườn tại xưởng tàu của hãng Vickers-Armstrongs ở Barrow-in-Furness vào ngày 6 tháng 6, 1942. Nó được hạ thủy vào ngày 24 tháng 2, 1943, và nhập biên chế cùng Hải quân Hoàng gia vào ngày 2 tháng 6, 1943 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Thiếu tá Hải quân Hugh S. Mackenzie.[3][4] Nó là chiếc tàu chiến duy nhất của Hải quân Hoàng gia Anh được đặt cái tên này.[3]
Lịch sử hoạt động
1943
Chuyến tuần tra thứ nhất
Sau khi thực hành huấn luyện tại các vùng biển Anh và Scotland, Tantalus xuất phát từ cảng Lerwick vào ngày 27 tháng 8, 1943 cho chuyến tuần tra đầu tiên trong chiến tranh. Nó đã hoạt động tại các vùng biển Na Uy và biển Bắc Cực cho đến tận phía Tây quần đảo Svalbard. Tại đây vào ngày 12 tháng 9, nó phát hiện một tàu ngầm đối phương, có thể là chiếc U-277, nhưng mất dấu mục tiêu trước khi kịp tấn công. Sau khi trinh sát khu vực, Tantalus quay trở về Lerwick vào ngày 21 tháng 9.[4]
Tantalus sau đó được sửa chữa tại Portsmouth từ đầu tháng 10 đến cuối tháng 12.[4]
1944
Tantalus xuất phát từ cảng Holy Lock vào ngày 24 tháng 1, 1944 do được điều động sang phục vụ tại Viễn Đông. Sau hành trình dài lần lượt đi ngang qua Gibraltar, Malta, Port Said, kênh đào Suez, Aden và Colombo, nó đi đến Trincomalee, Ceylon (nay là Sri Lanka) vào ngày 28 tháng 3.[4][3]
1945
Tantalus rời Fremantle vào ngày 25 tháng 3 cho hành trình quay trở về Anh để được đại tu và tái trang bị.[3] Sau khi đã lần lượt ghé qua Trincomalee, Aden, kênh đào Suez, Port Said, Malta và Gibraltar, nó về đến Portsmouth vào ngày 27 tháng 5.[4] Nó được đại tu tại xưởng tàu ở Dundee từ đầu tháng 6, và công việc vẫn chưa hoàn tất khi Thế Chiến II kết thúc.[4]
Sau chiến tranh
Tantalus tiếp tục phục vụ cùng Hải quân Hoàng gia trong giai đoạn Chiến tranh Lạnh, cho đến khi bị tháo dỡ tại Milford Haven vào tháng 11, 1950.[4]
Tóm tắt chiến công
Tantalus đã đánh chìm được bảy tàu buôn có tổng tải trọng 6.636 GRT, đồng thời gây hư hại cho một tàu chiến phụ trợ tải trọng 266 GRT.[4]
| Ngày | Tên tàu | Quốc tịch | Tải trọng[Ghi chú 2] | Số phận |
|---|---|---|---|---|
| 19 tháng 4, 1944 | Kampung Besar | 300 | Bị đánh chìm | |
| 29 tháng 4, 1944 | Pulo Salanama | 400 | Bị đánh chìm | |
| 5 tháng 3, 1944 | Amagi Maru | 3.165 | Bị đánh chìm | |
| 10 tháng 6, 1944 | Hiyoshi Maru | 536 | Bị đánh chìm | |
| 2 tháng 11, 1944 | Hachijin Maru | 1.915 | Bị đánh chìm | |
| 2 tháng 11, 1944 | Ch 1 | 266 | Bị hư hại | |
| 11 tháng 11, 1944 | Pahang Maru | 200 | Bị đánh chìm | |
| 30 tháng 1, 1945 | Taisei Maru số 12 | 120 | Bị đánh chìm |
Tham khảo
Ghi chú
- ↑ Tên được đặt theo Tantalus, một nhân vật trong Thần thoại Hy Lạp.
- ↑ Tàu buôn theo tấn đăng ký toàn phần. Tàu quân sự theo trọng lượng choán nước.
Chú thích
- 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 Helgason, Guðmundur. "T class – Technical information". U-boat Types - uboat.net. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2026.
- ↑ Kemp (1990), tr. 22, 26.
- 1 2 3 4 Mason, Lt Cdr Geoffrey B. (ngày 30 tháng 11 năm 2010). "HMS Tantalus – T-class Submarine". Naval History. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2026.
- 1 2 3 4 5 6 7 8 Helgason, Guðmundur. "HMS Tantalus (P318) – Submarine of the T Class". Allied Warships - uboat.net. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2025.
Thư mục
- Akermann, Paul (2002). Encyclopaedia of British Submarines 1901–1955 . Penzance, Cornwall: Periscope Publishing. ISBN 1-904381-05-7.
- Bagnasco, Erminio (1977). Submarines of World War Two. Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 0-87021-962-6.
- Chesneau, Roger, biên tập (1980). Conway's All the World's Fighting Ships 1922–1946. Greenwich, UK: Conway Maritime Press. ISBN 0-85177-146-7.
- Colledge, J. J.; Warlow, Ben (1969). Ships of the Royal Navy: the complete record of all fighting ships of the Royal Navy (Rev. ed.). London: Chatham. ISBN 978-1-86176-281-8. OCLC 67375475.
- Hutchinson, Robert (2001). Jane's Submarines: War Beneath the Waves from 1776 to the Present Day. London: HarperCollins. ISBN 978-0-00-710558-8. OCLC 53783010.
- Kemp, Paul J. (1990). The T-class Submarine: The Classic British Design. Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 1-55750-826-7. OCLC 22575300.
- McCartney, Innes (2006). British Submarines 1939–1945. New Vanguard. Quyển 129. Oxford, UK: Osprey. ISBN 1-84603-007-2.
- Rohwer, Jürgen (2005). Chronology of the War at Sea 1939–1945: The Naval History of World War Two . Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 1-59114-119-2.
Liên kết ngoài
- Helgason, Guðmundur. "T class – Technical information". U-boat Types - uboat.net. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2026.
- Mason, Lt Cdr Geoffrey B. (ngày 30 tháng 11 năm 2010). "HMS Tantalus – T-class Submarine". Naval History. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2026.
- Helgason, Guðmundur. "HMS Tantalus (P318) – Submarine of the T Class". Allied Warships - uboat.net. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2025.
- IWM Interview with Hugh Mackenzie, who commanded HMS Tantalus from 1943 to 1945