HMS Turbulent (N98)
Tàu ngầm HMS Turbulent (bên ngoài) đang cặp bên mạn tàu chị em HMS Taku, Algiers, tháng 2 năm 1943 | |
| Lịch sử | |
|---|---|
| Tên gọi | HMS Turbulent (N98) |
| Đặt hàng | 4 tháng 9, 1939 |
| Xưởng đóng tàu | Vickers-Armstrongs, Barrow-in-Furness |
| Đặt lườn | 15 tháng 3, 1940 |
| Hạ thủy | 12 tháng 5, 1941 |
| Nhập biên chế | 2 tháng 12, 1941 |
| Số phận | Bị đánh chìm, 6 tháng 3, 1943 |
| Đặc điểm khái quát | |
| Lớp tàu | lớp T |
| Kiểu tàu | tàu ngầm diesel-điện |
| Trọng tải choán nước | |
| Chiều dài | 276 ft 6 in (84,3 m)[1] |
| Sườn ngang | 25 ft 6 in (7,8 m) |
| Mớn nước |
|
| Động cơ đẩy |
|
| Tốc độ |
|
| Tầm xa | 8.000 nmi (15.000 km; 9.200 mi) ở tốc độ 10 kn (19 km/h; 12 mph) |
| Tầm hoạt động | 131 tấn nhiên liệu |
| Độ sâu thử nghiệm | 300 ft (91 m)[2] |
| Thủy thủ đoàn tối đa | 59[1] |
| Vũ khí | |
HMS Turbulent (N98) là một tàu ngầm lớp T thuộc Nhóm II, được Hải quân Hoàng gia Anh chế tạo trong Chương trình Khẩn cấp Chiến tranh 1939 trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nhập biên chế năm 1942, con tàu đã thực hiện được mười hai chuyến tuần tra tại khu vực Địa Trung Hải, đánh chìm hay gây tổn thất toàn bộ cho 22 tàu buôn có tổng tải trọng 31.299 GRT cùng một tàu chiến 1.917 tấn và một tàu chiến phụ trợ 1.554 GRT, đồng thời gây hư hại cho một tàu buôn tải trọng 7.173 GRT. Turbulent mất tích trong chuyến tuần tra cuối cùng tại vùng biển Tyrrhenum ngoài khơi Licosa, rất có thể do đã trúng mìn sâu thả từ tàu phóng lôi Ý Ardito vào ngày 6 tháng 3, 1943.
Thiết kế và chế tạo
Thiết kế

Lớp tàu ngầm T được thiết kế nhằm mục đích thay thế cho các các lớp Odin, Parthian và Rainbow. Chúng có trọng lượng choán nước 1.090 tấn Anh (1.107 t) khi nổi và 1.575 tấn Anh (1.600 t) khi lặn, lườn tàu có chiều dài chung 276 ft 6 in (84,28 m), mạn tàu rộng 26 ft 6 in (8,08 m) và mớn nước sâu 14 ft 7 in (4,45 m). Thủy thủ đoàn đầy đủ bao gồm 59 sĩ quan và thủy thủ, và con tàu có thể lặn sâu đến 300 ft (91 m).[1]
Tàu ngầm lớp T được trang bị hai động cơ diesel có tổng công suất 2.500 mã lực phanh (1.864 kW), mỗi chiếc vận hành một trục chân vịt. Khi lặn, mỗi trục được vận hành bởi một động cơ điện công suất 725 mã lực (541 kW). Khi di chuyển trên mặt nước nó đạt tốc độ tối đa 15,25 hải lý trên giờ (28,24 km/h; 17,55 mph) và 9 hải lý trên giờ (17 km/h; 10 mph) khi lặn dưới nước. Chúng có tầm xa hoạt động đến 8.000 hải lý (15.000 km; 9.200 mi) ở tốc độ 10 hải lý trên giờ (19 km/h; 12 mph).[1]
Turbulent trang bị mười một ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm), gồm sáu ống bên trong và năm ống bên ngoài, với tám ống ra phía trước và ba ống còn lại hướng ra phía đuôi, và mang theo tổng cộng 17 quả ngư lôi. Vũ khí trên boong tàu là một khẩu hải pháo QF 4 inch (101,6 mm) Mk XII cùng ba khẩu súng máy .303-calibre cho mục đích phòng không.[1]
Chế tạo
Turbulent được đặt hàng vào ngày 4 tháng 9, 1939 trong khuôn khổ Chương trình Khẩn cấp Chiến tranh 1939, và được đặt lườn tại xưởng tàu của hãng Vickers-Armstrongs ở Barrow-in-Furness vào ngày 15 tháng 3, 1940. Nó được hạ thủy vào ngày 12 tháng 5, 1941, và nhập biên chế cùng Hải quân Hoàng gia vào ngày 2 tháng 12, 1941 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Thiếu tá Hải quân John Wallace Linton.[3][4] Nó là chiếc tàu chiến thứ tư của Hải quân Hoàng gia Anh được đặt cái tên này.[3]
Lịch sử hoạt động
1942
Sau khi thực hành huấn luyện tại các vùng biển Scotland, Turbulent khởi hành từ Holy Loch vào ngày 3 tháng 1, 1942 để đi sang khu vực Địa Trung Hải. Nó đi đến Gibraltar vào ngày 10 tháng 1.[4]
Chuyến tuần tra thứ nhất
Turbulent xuất phát từ Gibraltar vào ngày 15 tháng 1 cho chuyến tuần tra đầu tiên trong chiến tranh. Nó đã hoạt động tại khu vực biển Alboran, nhưng không đánh chìm được mục tiêu nào, và quay trở về Gibraltar vào ngày 21 tháng 1.[4]
Sau đó chiếc tàu ngầm di chuyển từ Gibraltar sang Malta từ ngày 27 tháng 1 đến ngày 2 tháng 2, vận chuyển theo mười hành khách cùng hàng tiếp liệu cần thiết cho hòn đảo đang bị đối phương phong tỏa.[4]
1943
Chuyến tuần tra thứ mười hai – Bị mất tích
Turbulent xuất phát từ Algiers vào ngày 23 tháng 2, 1943 cho chuyến tuần tra thứ mười hai, cũng là chuyến cuối cùng, để hoạt động tại khu vực biển Tyrrhenum. Vào ngày 1 tháng 3, nó phóng ngư lôi tấn công không trúng đích chiếc tàu buôn Ý San Vincenzo 865 GRT, nhưng sau đó đã đánh chìm mục tiêu bằng hải pháo ở vị trí ngoài khơi Paola, Calabria. Đến ngày 3 tháng 3, nó lại dùng hải pháo đánh chìm các thuyền buồm Ý Gesù Giuseppe e Maria 64 GRT và Pier Delle Vigne 65 GRT ở vị trí ngoài khơi Milazzo, Sicilia.[4]
Vào ngày 12 tháng 3, tàu đánh cá chống ngầm Ý Teti II phát hiện kính tiêm vọng và tháp chỉ huy của một tàu ngầm, nên đã thả mìn sâu tấn công. Cho dù kết quả của đợt tấn công này không chắc chắn, sự kiện Turbulent không quay trở về căn cứ theo hạn định vào ngày 23 tháng 3 đưa đến suy đoán rằng nó đã bị đánh chìm bởi mìn sâu của Teti II hoặc đã trúng thủy lôi ở vị trí ngoài khơi La Maddalena, Sardegna.[4]
Tuy nhiên những nghiên cứu gần đây kết luận rằng đợt tấn công vào ngày 12 tháng 3 của Teti II thực ra đã nhắm vào chiếc tàu ngầm Pháp Casabianca, vốn đã sống sót; còn Turbulent đã bị đánh chìm bởi mìn sâu thả từ tàu phóng lôi Ý Ardito ở vị trí ngoài khơi Licosa (phía Nam Naples) vào ngày 6 tháng 3, 1943.[3][4]
Ghi nhận chiến công mà Turbulent lập được khi đánh chìm một số lượng lớn tàu bè đối phương đồng thời chịu nhiều đợt phản công,[5] Hạm trưởng của nó, Thiếu tá Hải quân John Wallace Linton, được truy tặng Huân chương Chữ thập Victoria vào tháng 5, 1943.[3][6]
Tóm tắt chiến công
Turbulent đã đánh chìm hay gây tổn thất toàn bộ cho 22 tàu buôn có tổng tải trọng 31.299 GRT cùng một tàu chiến 1.917 tấn và một tàu chiến phụ trợ 1.554 GRT, đồng thời gây hư hại cho một tàu buôn tải trọng 7.173 GRT.[4]
| Ngày | Tên tàu | Quốc tịch | Tải trọng[Ghi chú 1] | Số phận |
|---|---|---|---|---|
| 27 tháng 2, 1942 | Pi 253 / Agios Charalambos | 68 | Bị đánh chìm | |
| 2 tháng 3, 1942 | Cha 13 / Evangelistria | 45 | Bị đánh chìm | |
| 2 tháng 3, 1942 | My 164 / Apostolos | 25 | Bị đánh chìm | |
| 2 tháng 3, 1942 | Vol 181 / Chariklia | 42 | Bị đánh chìm | |
| 3 tháng 3, 1942 | Kal 199 / Agios Dionyssios | 30 | Bị đánh chìm | |
| 12 tháng 3, 1942 | Agia Paraskevi | 52 | Bị đánh chìm | |
| 13 tháng 3, 1942 | Kal 155 / Anastasia | 32 | Bị đánh chìm | |
| 7 tháng 4, 1942 | Rosa M. | 271 | Bị đánh chìm | |
| 14 tháng 4, 1942 | Franco | 73 | Bị đánh chìm | |
| 16 tháng 4, 1942 | Delia | 5.406 | Bị đánh chìm | |
| 14 tháng 5, 1942 | V 32 / San Giusto | 243 | Bị đánh chìm | |
| 18 tháng 5, 1942 | Bolsena | 2.384 | Bị đánh chìm | |
| 29 tháng 5, 1942 | Emanuele Pessagno | 1.917 | Bị đánh chìm | |
| 29 tháng 5, 1942 | Capo Arma | 3.172 | Bị đánh chìm | |
| 24 tháng 6, 1942 | Regulus | 1.085 | Tổn thất toàn bộ | |
| 17 tháng 8, 1942 | Nino Bixio | 7.137 | Bị hư hại | |
| 8 tháng 10, 1942 | Kreta | 853 | Bị đánh chìm | |
| 11 tháng 11, 1942 | Bengasi | 1.554 | Bị đánh chìm | |
| 29 tháng 12, 1942 | Marte | 5.290 | Bị đánh chìm | |
| 11 tháng 1, 1943 | Vittoria Beraldo | 547 | Bị đánh chìm | |
| 1 tháng 2, 1943 | Pozzuoli | 5.345 | Bị đánh chìm | |
| 5 tháng 2, 1943 | Utilitas | 5.342 | Bị đánh chìm | |
| 1 tháng 3, 1943 | San Vincenzo | 865 | Bị đánh chìm | |
| 3 tháng 3, 1943 | Gesù Giuseppe e Maria | 64 | Bị đánh chìm | |
| 3 tháng 3, 1943 | Pier Delle Vigne | 65 | Bị đánh chìm |
Tham khảo
Ghi chú
- ↑ Tàu buôn theo tấn đăng ký toàn phần. Tàu quân sự theo trọng lượng choán nước.
Chú thích
- 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 Helgason, Guðmundur. "T class – Technical information". U-boat Types - uboat.net. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2026.
- ↑ Kemp (1990), tr. 22, 26.
- 1 2 3 4 Mason, Lt Cdr Geoffrey B. (ngày 30 tháng 11 năm 2010). "HMS Turbulent – T-class Submarine". Naval History. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2026.
- 1 2 3 4 5 6 7 8 Helgason, Guðmundur. "HMS Turbulent (N 98) – Submarine of the T Class". Allied Warships - uboat.net. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2025.
- ↑ "Submarine History : Submarine Service : Operations and Support : Royal Navy". Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2007.
- ↑ "No. 36028". The London Gazette (Supplement). ngày 25 tháng 5 năm 1943. tr. 2329.
Thư mục
- Akermann, Paul (2002). Encyclopaedia of British Submarines 1901–1955 . Penzance, Cornwall: Periscope Publishing. ISBN 1-904381-05-7.
- Bagnasco, Erminio (1977). Submarines of World War Two. Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 0-87021-962-6.
- Caruana, Joseph (2012). "Emergency Victualling of Malta During WWII". Warship International. Quyển LXIX số 4. tr. 357–364. ISSN 0043-0374.
- Chesneau, Roger, biên tập (1980). Conway's All the World's Fighting Ships 1922–1946. Greenwich, UK: Conway Maritime Press. ISBN 0-85177-146-7.
- Colledge, J. J.; Warlow, Ben (1969). Ships of the Royal Navy: the complete record of all fighting ships of the Royal Navy (Rev. ed.). London: Chatham. ISBN 978-1-86176-281-8. OCLC 67375475.
- Hutchinson, Robert (2001). Jane's Submarines: War Beneath the Waves from 1776 to the Present Day. London: HarperCollins. ISBN 978-0-00-710558-8. OCLC 53783010.
- Kemp, Paul J. (1990). The T-class Submarine: The Classic British Design. Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 1-55750-826-7. OCLC 22575300.
- McCartney, Innes (2006). British Submarines 1939–1945. New Vanguard. Quyển 129. Oxford, UK: Osprey. ISBN 1-84603-007-2.
- Rohwer, Jürgen (2005). Chronology of the War at Sea 1939–1945: The Naval History of World War Two . Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 1-59114-119-2.
Liên kết ngoài
- Helgason, Guðmundur. "T class – Technical information". U-boat Types - uboat.net. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2026.
- Mason, Lt Cdr Geoffrey B. (ngày 30 tháng 11 năm 2010). "HMS Turbulent – T-class Submarine". Naval History. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2026.
- Helgason, Guðmundur. "HMS Turbulent (N 98) – Submarine of the T Class". Allied Warships - uboat.net. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2025.
- Lớp tàu ngầm Anh T
- Tàu ngầm của Hải quân Hoàng gia Anh trong Thế Chiến II
- Tàu ngầm bị mất tích
- Tàu ngầm bị tàu chiến Ý đánh chìm
- Xác tàu đắm trong Thế Chiến II trong Địa Trung Hải
- Sự cố hàng hải năm 1943
- Tàu thủy năm 1941