Bước tới nội dung

HMS Traveller (N48)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Tàu ngầm HMS Traveller (N 48) tại vùng biển Scotland, tháng 4 năm 1942
Lịch sử
Anh Quốc
Tên gọiHMS Traveller (N 48)
Đặt hàng4 tháng 9, 1939
Xưởng đóng tàuScotts, Greenock
Đặt lườn17 tháng 1, 1940
Hạ thủy27 tháng 8, 1941
Nhập biên chế10 tháng 4, 1942
Số phận
Đặc điểm khái quát
Lớp tàulớp T
Kiểu tàutàu ngầm diesel-điện
Trọng tải choán nước
Chiều dài276 ft 6 in (84,3 m)[1]
Sườn ngang25 ft 6 in (7,8 m)
Mớn nước
  • 12 ft 9 in (3,89 m) (phía mũi)
  • 14 ft 7 in (4,45 m) (phía đuôi)
Động cơ đẩy
Tốc độ
Tầm xa8.000 nmi (15.000 km; 9.200 mi) ở tốc độ 10 kn (19 km/h; 12 mph)
Tầm hoạt động131 tấn nhiên liệu
Độ sâu thử nghiệm300 ft (91 m)[2]
Thủy thủ đoàn tối đa59[1]
Vũ khí
  • 11 × ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm) [1]
    • 6 × phía mũi
    • 5 × bên ngoài
    • 17 × ngư lôi
  • 1 × hải pháo QF 4 inch (101,6 mm) Mk XII [1]
  • 3 × súng máy .303-calibre[1]

HMS Traveller (N48) là một tàu ngầm lớp T thuộc Nhóm II, được Hải quân Hoàng gia Anh chế tạo trong Chương trình Khẩn cấp Chiến tranh 1939 trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nhập biên chế năm 1942, con tàu chỉ thực hiện được năm chuyến tuần tra, tại khu vực Địa Trung Hải và đánh chìm được một tàu buôn tải trọng 1.245 GRT. Traveller mất tích trong chuyến tuần tra cuối cùng, nhiều khả năng đã bị đắm do trúng thủy lôi vào khoảng ngày 4 tháng 12, 1942.

Thiết kế và chế tạo

Thiết kế

Sơ đồ ngang và đứng của một tàu ngầm lớp T Nhóm III tiêu biểu

Lớp tàu ngầm T được thiết kế nhằm mục đích thay thế cho các các lớp Odin, ParthianRainbow. Chúng có trọng lượng choán nước 1.090 tấn Anh (1.107 t) khi nổi và 1.575 tấn Anh (1.600 t) khi lặn, lườn tàu có chiều dài chung 276 ft 6 in (84,28 m), mạn tàu rộng 26 ft 6 in (8,08 m) và mớn nước sâu 14 ft 7 in (4,45 m). Thủy thủ đoàn đầy đủ bao gồm 59 sĩ quan và thủy thủ, và con tàu có thể lặn sâu đến 300 ft (91 m).[1]

Tàu ngầm lớp T được trang bị hai động cơ diesel có tổng công suất 2.500 mã lực phanh (1.864 kW), mỗi chiếc vận hành một trục chân vịt. Khi lặn, mỗi trục được vận hành bởi một động cơ điện công suất 725 mã lực (541 kW). Khi di chuyển trên mặt nước nó đạt tốc độ tối đa 15,25 hải lý trên giờ (28,24 km/h; 17,55 mph)9 hải lý trên giờ (17 km/h; 10 mph) khi lặn dưới nước. Chúng có tầm xa hoạt động đến 8.000 hải lý (15.000 km; 9.200 mi) ở tốc độ 10 hải lý trên giờ (19 km/h; 12 mph).[1]

Traveller trang bị mười một ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm), gồm sáu ống bên trong và năm ống bên ngoài, với tám ống ra phía trước và ba ống còn lại hướng ra phía đuôi, và mang theo tổng cộng 17 quả ngư lôi. Vũ khí trên boong tàu là một khẩu hải pháo QF 4 inch (101,6 mm) Mk XII cùng ba khẩu súng máy .303-calibre cho mục đích phòng không.[1]

Chế tạo

Traveller được đặt hàng vào ngày 4 tháng 9, 1939 trong khuôn khổ Chương trình Khẩn cấp Chiến tranh 1939, và được đặt lườn tại xưởng tàu của hãng Scotts ở Greenock vào ngày 17 tháng 1, 1940. Nó được hạ thủy vào ngày 27 tháng 8, 1941, và nhập biên chế cùng Hải quân Hoàng gia vào ngày 10 tháng 4, 1941 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Thiếu tá Hải quân George D. A. Gregory.[3] Nó là chiếc tàu chiến thứ tư của Hải quân Hoàng gia Anh được đặt cái tên này.

Chiếc tàu ngầm được cộng đồng dân cư Borough tại Leyton, London nhận đỡ đầu trong khuôn khổ cuộc vận động Tuần lễ Tàu chiến để bán trái phiếu chiến tranh.[4]

Lịch sử hoạt động

Sau khi hoàn tất việc thực hành huấn luyện tại các vùng biển Scotland, Traveller rời Holy Loch vào ngày 14 tháng 5 để đi sang Gibraltar, đến nơi vào ngày 14 tháng 5.[3]

Chuyến tuần tra thứ nhất

Traveller xuất phát từ Gibraltar vào ngày 3 tháng 6 cho chuyến tuần tra đầu tiên trong chiến tranh, và đã hoạt động tại khu vực biển Alboran. Nó chỉ bắt gặp các tàu buôn mang cờ trung lập và nhiều tàu đánh cá nhỏ, và kết thúc chuyến tuần tra khi quay trở về Gibraltar vào ngày 11 tháng 6.[3]

Chiếc tàu ngầm sau đó rời Gibraltar vào ngày 19 tháng 6 để đi sang khu vực Đông Địa Trung Hải, dự định sẽ đi đến Alexandria, Ai Cập. Tuy nhiên nó được lệnh đổi hướng trên đường đi, và đi đến Haifa vào ngày 7 tháng 7.[3]

Chuyến tuần tra thứ hai

Traveller xuất phát từ Haifa vào ngày 19 tháng 7 cho chuyến tuần tra thứ hai, và hoạt động tại khu vực biển Adriatic. Vào ngày 28 tháng 7, nó bị một tàu phóng lôi Ý thả mìn sâu tấn công nhưng không bị hư hại; cùng ngày hôm đó chiếc tàu ngầm phóng ngư lôi tấn công chiếc tàu buôn Ý Ezilda Croce không có kết quả. Vào ngày 31 tháng 7, nó phóng ngư lôi tấn công chiếc pháo hạm Ý Cattaro nhưng bị trượt. Vào ngày 3 tháng 8, Traveller phóng ngư lôi tấn công chiếc tàu buôn Đức Pluto ở vị trí ngoài khơi đảo Mulo nhưng không thành công. Đến ngày 5 tháng 8, ở vị trí khoảng 30 nmi (56 km) về phía Đông Bắc Pescara nó phóng hai quả ngư lôi tấn công chiếc tàu ngầm Ý Porfido, nhưng bị trượt. Traveller tiếp tục tấn công bằng hải pháo, nhưng đối thủ đã lặn xuống ẩn nấp và mất dấu. Hai ngày sau đó, nó phóng ngư lôi tấn công một tàu ngầm, có thể lại là Porfido, trong eo biển Otrannto, nhưng vẫn không thành công. Chiếc tàu ngầm kết thúc chuyến tuần tra tại Beirut vào ngày 14 tháng 8.[3]

Chuyến tuần tra thứ ba

Traveller xuất phát từ Beirut vào ngày 30 tháng 8 cho chuyến tuần tra thứ ba, và hoạt động dọc theo bờ biển Bắc Phi ở khu vực ngoài khơi Tobruk. Vào ngày 5 tháng 9, nó phóng bốn quả ngư lôi tấn công và đã đánh chìm chiếc tàu buôn Ý Albachiara 1.245 GRT ở vị trí khoảng 30 nmi (56 km) về phía Đông Bắc Derna, Libya. Đến ngày 17 tháng 9, nó đón trở lại tàu hai biệt kích tham gia Chiến dịch Anglo ở vị trí gần mũi Archangelo, Rhode. Traveller quay trở về Beirut vào ngày 20 tháng 9.[3]

Chuyến tuần tra thứ tư

Traveller khởi hành từ Beirut vào ngày 4 tháng 10 cho chuyến tuần tra thứ tư, và hoạt động tại vùng biển về phía Tây đảo Crete. Tại đây vào ngày 9 tháng 10, nó phóng bốn quả ngư lôi tấn công chiếc tàu chở dầu Ý Proserpina nhưng không thành công. Hai ngày sau đó, nó lại phóng hai quả ngư lôi tấn công chiếc tàu quét mìn phụ trợ Đức Bulgaria, nhưng không trúng đích. Đến ngày 15 tháng 10, nó tiếp tục phóng bốn quả ngư lôi tấn công chiếc tàu buôn Ý Anna Maria, nhưng tất cả đều bị trượt. Chiếc tàu ngầm kết thúc chuyến tuần tra và đi đến cảng Port Said, Ai Cập vào ngày 26 tháng 10.[3]

Từ ngày 13 đến ngày 23 tháng 11, chiếc tàu ngầm thực hiện một chuyến đi vận chuyển tiếp liệu từ Port Said đến Malta.[3]

Chuyến tuần tra thứ năm – Bị mất tích

Traveller rời Malta vào ngày 28 tháng 11, 1942 cho chuyến tuần tra thứ năm, và làm nhiệm vụ trinh sát cảng Taranto để chuẩn bị cho Chiến dịch Principal, một kế hoạch tấn công cảng này bằng ngư lôi có người lái Chariot. Traveller đã không quay trở về căn cứ theo hạn định, và được công bố mất tích vào ngày 12 tháng 12. Chiếc tàu ngầm có thể đã mất do trúng thủy lôi do phía Ý rải vào khoảng ngày 4 tháng 12.[3][5]

Tóm tắt chiến công

Traveller đã đánh chìm được một tàu buôn tải trọng 1.245 GRT.[3]

NgàyTên tàuQuốc tịchTải trọng[Ghi chú 1]Số phận
5 tháng 9, 1942Albachiara Ý1.245Bị đánh chìm

Xem thêm

Tham khảo

Ghi chú

  1. Tàu buôn theo tấn đăng ký toàn phần. Tàu quân sự theo trọng lượng choán nước.

Chú thích

  1. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 Helgason, Guðmundur. "T class – Technical information". U-boat Types - uboat.net. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2026.
  2. Kemp (1990), tr. 22, 26.
  3. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Helgason, Guðmundur. "HMS Traveller (N 48) – Submarine of the T Class". Allied Warships - uboat.net (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2025.
  4. "Warship Weeks: Adopting Naval Vessels in World War Two - Online Information Bank - Research Collections - Royal Naval Museum at Portsmouth Historic Dockyard". www.royalnavalmuseum.org. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2025.
  5. "Submarine losses 1904 to present day". RN Submarine Museum, Gosport. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2007.

Thư mục

Liên kết ngoài