Bước tới nội dung

HMS Truculent (P315)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Tàu ngầm HMS Truculent tại Barrow, tháng 12 năm 1942
Lịch sử
Anh Quốc
Tên gọiHMS Truculent (P15)
Đặt hàng2 tháng 9, 1940
Xưởng đóng tàuVickers-Armstrongs, Barrow-in-Furness
Đặt lườn4 tháng 12, 1941
Hạ thủy12 tháng 9, 1942
Nhập biên chế31 tháng 12, 1942
Số phậnĐắm do tai nạn va chạm, 12 tháng 1, 1950
Đặc điểm khái quát
Lớp tàulớp T
Kiểu tàutàu ngầm diesel-điện
Trọng tải choán nước
Chiều dài276 ft 6 in (84,3 m)[1]
Sườn ngang25 ft 6 in (7,8 m)
Mớn nước
  • 12 ft 9 in (3,89 m) (phía mũi)
  • 14 ft 7 in (4,45 m) (phía đuôi)
Động cơ đẩy
Tốc độ
Tầm xa8.000 nmi (15.000 km; 9.200 mi) ở tốc độ 10 kn (19 km/h; 12 mph)
Tầm hoạt động131 tấn nhiên liệu
Độ sâu thử nghiệm300 ft (91 m)[2]
Thủy thủ đoàn tối đa59[1]
Vũ khí
  • 11 × ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm) [1]
    • 6 × phía mũi
    • 5 × bên ngoài
    • 17 × ngư lôi
  • 1 × hải pháo QF 4 inch (101,6 mm) Mk XII [1]
  • 3 × súng máy .303-calibre[1]

HMS Truculent (P315) là một tàu ngầm lớp T thuộc Nhóm III, được Hải quân Hoàng gia Anh chế tạo trong Chương trình Chế tạo 1940 trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nhập biên chế năm 1942, con tàu đã thực hiện được mười một chuyến tuần tra tại các khu vực Đại Tây DươngViễn Đông, đánh chìm được bốn tàu buôn có tổng tải trọng 4.971 GRT cùng một tàu chiến 769 tấn, đồng thơi gây hư hại cho một tàu chiến phụ trợ tải trọng 1.608 GRT. Truculent sống sót qua cuộc xung đột, nhưng lại bị đắm do tai nạn va chạm với tàu chở dầu Thụy Điển Divina tại cửa sông Thames vào ngày 6 tháng 1, 1950. Xác tàu đắm được trục vớt và tháo dỡ sau đó.

Thiết kế và chế tạo

Thiết kế

Sơ đồ ngang và đứng của một tàu ngầm lớp T Nhóm III tiêu biểu

Lớp tàu ngầm T được thiết kế nhằm mục đích thay thế cho các các lớp Odin, ParthianRainbow. Chúng có trọng lượng choán nước 1.090 tấn Anh (1.107 t) khi nổi và 1.575 tấn Anh (1.600 t) khi lặn, lườn tàu có chiều dài chung 276 ft 6 in (84,28 m), mạn tàu rộng 26 ft 6 in (8,08 m) và mớn nước sâu 14 ft 7 in (4,45 m). Thủy thủ đoàn đầy đủ bao gồm 59 sĩ quan và thủy thủ, và con tàu có thể lặn sâu đến 300 ft (91 m).[1]

Tàu ngầm lớp T được trang bị hai động cơ diesel có tổng công suất 2.500 mã lực phanh (1.864 kW), mỗi chiếc vận hành một trục chân vịt. Khi lặn, mỗi trục được vận hành bởi một động cơ điện công suất 725 mã lực (541 kW). Khi di chuyển trên mặt nước nó đạt tốc độ tối đa 15,25 hải lý trên giờ (28,24 km/h; 17,55 mph)9 hải lý trên giờ (17 km/h; 10 mph) khi lặn dưới nước. Chúng có tầm xa hoạt động đến 8.000 hải lý (15.000 km; 9.200 mi) ở tốc độ 10 hải lý trên giờ (19 km/h; 12 mph).[1]

Truculent trang bị mười một ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm), gồm sáu ống bên trong và năm ống bên ngoài, với tám ống ra phía trước và ba ống còn lại hướng ra phía đuôi, và mang theo tổng cộng 17 quả ngư lôi. Vũ khí trên boong tàu là một khẩu hải pháo QF 4 inch (101,6 mm) Mk XII cùng ba khẩu súng máy .303-calibre cho mục đích phòng không.[1]

Chế tạo

Truculent được đặt hàng vào ngày 2 tháng 9, 1940 trong khuôn khổ Chương trình Chế tạo 1940, và được đặt lườn tại xưởng tàu của hãng Vickers-Armstrongs ở Barrow-in-Furness vào ngày 4 tháng 12, 1941. Nó được hạ thủy vào ngày 12 tháng 9, 1942, và nhập biên chế cùng Hải quân Hoàng gia vào ngày 31 tháng 12 , 1942 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Đại úy Hải quân Robert L. Alexandre.[3] Nó là chiếc tàu chiến thứ hai của Hải quân Hoàng gia Anh được đặt cái tên này.

Chiếc tàu ngầm được cộng đồng cư dân thị trấn Glossop, Derbyshire đỡ đầu nhân cuộc vận động Tuần lễ Tàu chiến năm 1942 để bán trái phiếu chiến tranh. Họ đã quyên góp được 175.000 Bảng Anh.[4]

Lịch sử hoạt động

1943

Chuyến tuần tra thứ nhất

Sau khi thực hành huấn luyện tại các vùng biển Scotland, Truculent xuất phát từ cảng Lerwick vào ngày 15 tháng 2, 1943 cho chuyến tuần tra đầu tiên trong chiến tranh. Nó đã hoạt động dọc theo bờ biển Na Uy cho đến phía cực Bắc Na Uy để bảo vệ cho Đoàn tàu JW-53 đi sang Liên Xô. Nó kết thúc chuyến tuần tra và quay trở lại Lerwick vào ngày 11 tháng 3.[3]

1944

Truculent rời Trincomalee vào ngày 29 tháng 7 để quay trở về Anh cho một lượt đại tu. Sau hành trình dài lần lượt đi ngang qua Aden, kênh đào Suez, Port Said, Malta và Gibraltar, nó về đến Holy Loch vào ngày 18 tháng 9. Tuy nhiên do các xưởng tàu tại Anh đang bị quá tải, chiếc tàu ngầm được chuyển sang đại tu tại một xưởng tàu tại Hoa Kỳ.[3]

Vì vậy nó khởi hành từ Scapa Flow vào ngày 2 tháng 12 để vượt Đại Tây Dương, ghé đến St. John's, Newfoundland từ ngày 12 đến ngày 16 tháng 12, và đi đến Xưởng hải quân Philadelphia vào ngày 27 tháng 12. Công việc sửa chữa và tái trang bị kéo dài cho đến cuối tháng 6, 1945.[3]

1945

Sau khi việc sửa chữa và nâng cấp hoàn tất, Truculent chạy thử máy tại khu vực New London, Connecticut cho đến ngày 12 tháng 7, 1945, khi nó lên đường quay trở về Anh, đi đến Holy Loch vào ngày 24 tháng 7. Chiếc tàu ngầm vẫn còn đang thực hành huấn luyện khi Thế Chiến II kết thúc vào ngày 15 tháng 8, 1945.[3]

Sau chiến tranh

Truculent tiếp tục phục vụ cùng Hải quân Hoàng gia trong giai đoạn Chiến tranh Lạnh.

Bị đắm

Vào ngày 12 tháng 1, 1950, sau một đợt tái trang bị tại Chatham, Truculent hoàn tất một đợt chạy thử máy và đang trên đường quay trở lại Sheerness. Ngoài thủy thủ đoàn thường lệ vào thời bình, trên tàu còn có 18 công nhân xưởng tàu. Nó đang tiến vào cửa sông Thames lúc 19 giờ thì gặp tan nạn va chạm với tàu chở dầu Thụy Điển Divina vốn đang trong hành trình từ Purfleet đến Ipswich. Va chạm xảy ra khi mũi tàu Divina đâm vào mạn phải phía mũi Truculent khiến chiếc tàu ngầm nhanh chóng bị đắm.[3][5]

Tai nạn đã khiến 57 thành viên thủy thủ đoàn và công nhân xưởng tàu thiệt mạng, và có tổng cộng 20 người sống sót bao gồm 15 được Divina và năm người được chiếc tàu Hà Lan Almdijk cứu vớt. Hầu hết thủy thủ đoàn đã thoát ra được khỏi tàu khi Truculent đắm, nhưng qua đời sau đó do mất nhiệt trong dòng nước giá lạnh giữa mùa Đông. Xác tàu được trục vớt vào ngày 14 tháng 3, 1950, thu hồi mười thi thể còn lại bên trong tàu, và được kéo đến Xưởng tàu Sheerness. Cuối cùng xác tàu bị bán để tháo dỡ vào ngày 8 tháng 5, 1950.[3]

Tóm tắt chiến công

Truculent đã đánh chìm được bốn tàu buôn có tổng tải trọng 4.971 GRT cùng một tàu chiến 769 tấn, đồng thơi gây hư hại cho một tàu chiến phụ trợ tải trọng 1.608 GRT.[3]

NgàyTên tàuQuốc tịchTải trọng[Ghi chú 1]Số phận
4 tháng 6, 1943U-308 Hải quân Đức Quốc xã769Bị đánh chìm
28 tháng 3, 1944Yasushima Maru Nhật Bản1.910Bị đánh chìm
1 tháng 4, 1944Mantai Nhật Bản-Bị đánh chìm
17 tháng 6, 1944P 2101 / Tongkang Penang Nhật Bản21Bị đánh chìm
26 tháng 6, 1944SS Van Waerwijck Nhật Bản3.040Bị đánh chìm
3 tháng 8, 1944Hatsutaka Hải quân Nhật Bản1.608Bị hư hại (mìn)

Xem thêm

Tham khảo

Ghi chú

  1. Tàu buôn theo tấn đăng ký toàn phần. Tàu quân sự theo trọng lượng choán nước.

Chú thích

  1. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 Helgason, Guðmundur. "T class – Technical information". U-boat Types - uboat.net. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2026.
  2. Kemp (1990), tr. 22, 26.
  3. 1 2 3 4 5 6 7 8 Helgason, Guðmundur. "HMS Truculent (P315) – Submarine of the T Class". Allied Warships - uboat.net. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2025.
  4. "NOSTALGIA: Proud memories of Glossop's Sub". Quest Media Network. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2022.
  5. "Submarine losses 1904 to present day". RN Submarine Museum, Gosport. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2007.

Thư mục

Liên kết ngoài