HMS Truculent (P315)
Tàu ngầm HMS Truculent tại Barrow, tháng 12 năm 1942 | |
| Lịch sử | |
|---|---|
| Tên gọi | HMS Truculent (P15) |
| Đặt hàng | 2 tháng 9, 1940 |
| Xưởng đóng tàu | Vickers-Armstrongs, Barrow-in-Furness |
| Đặt lườn | 4 tháng 12, 1941 |
| Hạ thủy | 12 tháng 9, 1942 |
| Nhập biên chế | 31 tháng 12, 1942 |
| Số phận | Đắm do tai nạn va chạm, 12 tháng 1, 1950 |
| Đặc điểm khái quát | |
| Lớp tàu | lớp T |
| Kiểu tàu | tàu ngầm diesel-điện |
| Trọng tải choán nước | |
| Chiều dài | 276 ft 6 in (84,3 m)[1] |
| Sườn ngang | 25 ft 6 in (7,8 m) |
| Mớn nước |
|
| Động cơ đẩy |
|
| Tốc độ |
|
| Tầm xa | 8.000 nmi (15.000 km; 9.200 mi) ở tốc độ 10 kn (19 km/h; 12 mph) |
| Tầm hoạt động | 131 tấn nhiên liệu |
| Độ sâu thử nghiệm | 300 ft (91 m)[2] |
| Thủy thủ đoàn tối đa | 59[1] |
| Vũ khí | |
HMS Truculent (P315) là một tàu ngầm lớp T thuộc Nhóm III, được Hải quân Hoàng gia Anh chế tạo trong Chương trình Chế tạo 1940 trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nhập biên chế năm 1942, con tàu đã thực hiện được mười một chuyến tuần tra tại các khu vực Đại Tây Dương và Viễn Đông, đánh chìm được bốn tàu buôn có tổng tải trọng 4.971 GRT cùng một tàu chiến 769 tấn, đồng thơi gây hư hại cho một tàu chiến phụ trợ tải trọng 1.608 GRT. Truculent sống sót qua cuộc xung đột, nhưng lại bị đắm do tai nạn va chạm với tàu chở dầu Thụy Điển Divina tại cửa sông Thames vào ngày 6 tháng 1, 1950. Xác tàu đắm được trục vớt và tháo dỡ sau đó.
Thiết kế và chế tạo
Thiết kế

Lớp tàu ngầm T được thiết kế nhằm mục đích thay thế cho các các lớp Odin, Parthian và Rainbow. Chúng có trọng lượng choán nước 1.090 tấn Anh (1.107 t) khi nổi và 1.575 tấn Anh (1.600 t) khi lặn, lườn tàu có chiều dài chung 276 ft 6 in (84,28 m), mạn tàu rộng 26 ft 6 in (8,08 m) và mớn nước sâu 14 ft 7 in (4,45 m). Thủy thủ đoàn đầy đủ bao gồm 59 sĩ quan và thủy thủ, và con tàu có thể lặn sâu đến 300 ft (91 m).[1]
Tàu ngầm lớp T được trang bị hai động cơ diesel có tổng công suất 2.500 mã lực phanh (1.864 kW), mỗi chiếc vận hành một trục chân vịt. Khi lặn, mỗi trục được vận hành bởi một động cơ điện công suất 725 mã lực (541 kW). Khi di chuyển trên mặt nước nó đạt tốc độ tối đa 15,25 hải lý trên giờ (28,24 km/h; 17,55 mph) và 9 hải lý trên giờ (17 km/h; 10 mph) khi lặn dưới nước. Chúng có tầm xa hoạt động đến 8.000 hải lý (15.000 km; 9.200 mi) ở tốc độ 10 hải lý trên giờ (19 km/h; 12 mph).[1]
Truculent trang bị mười một ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm), gồm sáu ống bên trong và năm ống bên ngoài, với tám ống ra phía trước và ba ống còn lại hướng ra phía đuôi, và mang theo tổng cộng 17 quả ngư lôi. Vũ khí trên boong tàu là một khẩu hải pháo QF 4 inch (101,6 mm) Mk XII cùng ba khẩu súng máy .303-calibre cho mục đích phòng không.[1]
Chế tạo
Truculent được đặt hàng vào ngày 2 tháng 9, 1940 trong khuôn khổ Chương trình Chế tạo 1940, và được đặt lườn tại xưởng tàu của hãng Vickers-Armstrongs ở Barrow-in-Furness vào ngày 4 tháng 12, 1941. Nó được hạ thủy vào ngày 12 tháng 9, 1942, và nhập biên chế cùng Hải quân Hoàng gia vào ngày 31 tháng 12 , 1942 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Đại úy Hải quân Robert L. Alexandre.[3] Nó là chiếc tàu chiến thứ hai của Hải quân Hoàng gia Anh được đặt cái tên này.
Chiếc tàu ngầm được cộng đồng cư dân thị trấn Glossop, Derbyshire đỡ đầu nhân cuộc vận động Tuần lễ Tàu chiến năm 1942 để bán trái phiếu chiến tranh. Họ đã quyên góp được 175.000 Bảng Anh.[4]
Lịch sử hoạt động
1943
Chuyến tuần tra thứ nhất
Sau khi thực hành huấn luyện tại các vùng biển Scotland, Truculent xuất phát từ cảng Lerwick vào ngày 15 tháng 2, 1943 cho chuyến tuần tra đầu tiên trong chiến tranh. Nó đã hoạt động dọc theo bờ biển Na Uy cho đến phía cực Bắc Na Uy để bảo vệ cho Đoàn tàu JW-53 đi sang Liên Xô. Nó kết thúc chuyến tuần tra và quay trở lại Lerwick vào ngày 11 tháng 3.[3]
1944
Truculent rời Trincomalee vào ngày 29 tháng 7 để quay trở về Anh cho một lượt đại tu. Sau hành trình dài lần lượt đi ngang qua Aden, kênh đào Suez, Port Said, Malta và Gibraltar, nó về đến Holy Loch vào ngày 18 tháng 9. Tuy nhiên do các xưởng tàu tại Anh đang bị quá tải, chiếc tàu ngầm được chuyển sang đại tu tại một xưởng tàu tại Hoa Kỳ.[3]
Vì vậy nó khởi hành từ Scapa Flow vào ngày 2 tháng 12 để vượt Đại Tây Dương, ghé đến St. John's, Newfoundland từ ngày 12 đến ngày 16 tháng 12, và đi đến Xưởng hải quân Philadelphia vào ngày 27 tháng 12. Công việc sửa chữa và tái trang bị kéo dài cho đến cuối tháng 6, 1945.[3]
1945
Sau khi việc sửa chữa và nâng cấp hoàn tất, Truculent chạy thử máy tại khu vực New London, Connecticut cho đến ngày 12 tháng 7, 1945, khi nó lên đường quay trở về Anh, đi đến Holy Loch vào ngày 24 tháng 7. Chiếc tàu ngầm vẫn còn đang thực hành huấn luyện khi Thế Chiến II kết thúc vào ngày 15 tháng 8, 1945.[3]
Sau chiến tranh
Truculent tiếp tục phục vụ cùng Hải quân Hoàng gia trong giai đoạn Chiến tranh Lạnh.
Bị đắm
Vào ngày 12 tháng 1, 1950, sau một đợt tái trang bị tại Chatham, Truculent hoàn tất một đợt chạy thử máy và đang trên đường quay trở lại Sheerness. Ngoài thủy thủ đoàn thường lệ vào thời bình, trên tàu còn có 18 công nhân xưởng tàu. Nó đang tiến vào cửa sông Thames lúc 19 giờ thì gặp tan nạn va chạm với tàu chở dầu Thụy Điển Divina vốn đang trong hành trình từ Purfleet đến Ipswich. Va chạm xảy ra khi mũi tàu Divina đâm vào mạn phải phía mũi Truculent khiến chiếc tàu ngầm nhanh chóng bị đắm.[3][5]
Tai nạn đã khiến 57 thành viên thủy thủ đoàn và công nhân xưởng tàu thiệt mạng, và có tổng cộng 20 người sống sót bao gồm 15 được Divina và năm người được chiếc tàu Hà Lan Almdijk cứu vớt. Hầu hết thủy thủ đoàn đã thoát ra được khỏi tàu khi Truculent đắm, nhưng qua đời sau đó do mất nhiệt trong dòng nước giá lạnh giữa mùa Đông. Xác tàu được trục vớt vào ngày 14 tháng 3, 1950, thu hồi mười thi thể còn lại bên trong tàu, và được kéo đến Xưởng tàu Sheerness. Cuối cùng xác tàu bị bán để tháo dỡ vào ngày 8 tháng 5, 1950.[3]
Tóm tắt chiến công
Truculent đã đánh chìm được bốn tàu buôn có tổng tải trọng 4.971 GRT cùng một tàu chiến 769 tấn, đồng thơi gây hư hại cho một tàu chiến phụ trợ tải trọng 1.608 GRT.[3]
| Ngày | Tên tàu | Quốc tịch | Tải trọng[Ghi chú 1] | Số phận |
|---|---|---|---|---|
| 4 tháng 6, 1943 | U-308 | 769 | Bị đánh chìm | |
| 28 tháng 3, 1944 | Yasushima Maru | 1.910 | Bị đánh chìm | |
| 1 tháng 4, 1944 | Mantai | - | Bị đánh chìm | |
| 17 tháng 6, 1944 | P 2101 / Tongkang Penang | 21 | Bị đánh chìm | |
| 26 tháng 6, 1944 | SS Van Waerwijck | 3.040 | Bị đánh chìm | |
| 3 tháng 8, 1944 | Hatsutaka | 1.608 | Bị hư hại (mìn) |
Xem thêm
Tham khảo
Ghi chú
- ↑ Tàu buôn theo tấn đăng ký toàn phần. Tàu quân sự theo trọng lượng choán nước.
Chú thích
- 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 Helgason, Guðmundur. "T class – Technical information". U-boat Types - uboat.net. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2026.
- ↑ Kemp (1990), tr. 22, 26.
- 1 2 3 4 5 6 7 8 Helgason, Guðmundur. "HMS Truculent (P315) – Submarine of the T Class". Allied Warships - uboat.net. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2025.
- ↑ "NOSTALGIA: Proud memories of Glossop's Sub". Quest Media Network. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2022.
- ↑ "Submarine losses 1904 to present day". RN Submarine Museum, Gosport. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2007.
Thư mục
- Akermann, Paul (2002). Encyclopaedia of British Submarines 1901–1955 . Penzance, Cornwall: Periscope Publishing. ISBN 1-904381-05-7.
- Bagnasco, Erminio (1977). Submarines of World War Two. Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 0-87021-962-6.
- Chesneau, Roger, biên tập (1980). Conway's All the World's Fighting Ships 1922–1946. Greenwich, UK: Conway Maritime Press. ISBN 0-85177-146-7.
- Colledge, J. J.; Warlow, Ben (1969). Ships of the Royal Navy: the complete record of all fighting ships of the Royal Navy (Rev. ed.). London: Chatham. ISBN 978-1-86176-281-8. OCLC 67375475.
- Hutchinson, Robert (2001). Jane's Submarines: War Beneath the Waves from 1776 to the Present Day. London: HarperCollins. ISBN 978-0-00-710558-8. OCLC 53783010.
- Johnson-Allen, John (2019). They Were Just Skulls, The Naval Career of Fred Henley, Last Survivor of HM Submarine Truculent. Whittles Publishing. ISBN 978-184995-404-4.
- Kemp, Paul J. (1990). The T-class Submarine: The Classic British Design. Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 1-55750-826-7. OCLC 22575300.
- McCartney, Innes (2006). British Submarines 1939–1945. New Vanguard. Quyển 129. Oxford, UK: Osprey. ISBN 1-84603-007-2.
- Rohwer, Jürgen (2005). Chronology of the War at Sea 1939–1945: The Naval History of World War Two . Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 1-59114-119-2.
Liên kết ngoài
- Helgason, Guðmundur. "T class – Technical information". U-boat Types - uboat.net. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2026.
- Helgason, Guðmundur. "HMS Truculent (P315) – Submarine of the T Class". Allied Warships - uboat.net. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2025.
- Lớp tàu ngầm Anh T
- Tàu ngầm của Hải quân Hoàng gia Anh trong Thế Chiến II
- Tàu ngầm của Hải quân Hoàng gia Anh trong Chiến tranh Lạnh
- Tai nạn tàu ngầm
- Xác tàu đắm tại eo biển Dover
- Sự cố hàng hải năm 1950
- Tàu thủy năm 1942