HNLMS Zwaardvisch (P322)
Tàu ngầm Hà Lan HNLMS Zwaardvis trong giai đoạn sau chiến tranh | |
| Lịch sử | |
|---|---|
| Tên gọi | HMS Talent (P322) |
| Đặt hàng | 3 tháng 8, 1941 |
| Xưởng đóng tàu | Vickers-Armstrongs, Barrow-in-Furness |
| Đặt lườn | 13 tháng 10, 1942 |
| Hạ thủy | 17 tháng 7, 1943 |
| Số phận | Chuyển cho Hải quân Hoàng gia Hà Lan, 23 tháng 3, 1943 |
| Lịch sử | |
| Tên gọi | HNLMS Zwaardvisch (S814) |
| Đặt tên theo | cá kiếm |
| Nhập biên chế | 23 tháng 11, 1943 |
| Xuất biên chế | 11 tháng 12, 1962 |
| Đổi tên | Zwaardvis, 1950 |
| Số phận | Bán để tháo dỡ, 12 tháng 7, 1963 |
| Đặc điểm khái quát | |
| Lớp tàu | lớp T |
| Kiểu tàu | tàu ngầm diesel-điện |
| Trọng tải choán nước | |
| Chiều dài | 276 ft 6 in (84,3 m)[1] |
| Sườn ngang | 25 ft 6 in (7,8 m) |
| Mớn nước |
|
| Động cơ đẩy |
|
| Tốc độ |
|
| Tầm xa | 8.000 nmi (15.000 km; 9.200 mi) ở tốc độ 10 kn (19 km/h; 12 mph) |
| Tầm hoạt động | 131 tấn nhiên liệu |
| Độ sâu thử nghiệm | 300 ft (91 m)[2] |
| Thủy thủ đoàn tối đa | 59[1] |
| Vũ khí | |
HNLMS Zwaardvisch (S814)[Ghi chú 1] là một tàu ngầm của Hải quân Hoàng gia Hà Lan từng hoạt động trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nguyên là tàu ngầm HMS Talent (P322) thuộc Nhóm III của lớp T, được Hải quân Hoàng gia Anh đặt hàng trong Chương trình Chế tạo 1941, nó được chuyển giao cho Hà Lan vào tháng 3, 1943 trước khi được hạ thủy vào tháng 7, 1943, và nhập biên chế vào ngày 23 tháng 11 1943. Zwaardvisch đã thực hiện được bảy chuyến tuần tra, phần lớn tại khu vực Viễn Đông, trong biên chế các đơn vị hải quân Anh và Hoa Kỳ, đánh chìm được sáu tàu buôn có tổng tải trọng 203 GRT cùng một tàu chiến 1.144 tấn và một tàu chiến phụ trợ 1.970 GRT, đồng thời gây hư hại cho một tàu chiến phụ trợ khác tải trọng 1.608 GRT. Chiếc tàu ngầm đã sống sót qua cuộc xung đột, được đổi tên thành HNLMS Zwaardvis vào năm 1950, và cuối cùng bị bán để tháo dỡ vào tháng 7, 1963.
Thiết kế và chế tạo
Thiết kế

Lớp tàu ngầm T được thiết kế nhằm mục đích thay thế cho các các lớp Odin, Parthian và Rainbow. Chúng có trọng lượng choán nước 1.090 tấn Anh (1.107 t) khi nổi và 1.575 tấn Anh (1.600 t) khi lặn, lườn tàu có chiều dài chung 276 ft 6 in (84,28 m), mạn tàu rộng 26 ft 6 in (8,08 m) và mớn nước sâu 14 ft 7 in (4,45 m). Thủy thủ đoàn đầy đủ bao gồm 59 sĩ quan và thủy thủ, và con tàu có thể lặn sâu đến 300 ft (91 m).[1]
Tàu ngầm lớp T được trang bị hai động cơ diesel có tổng công suất 2.500 mã lực phanh (1.864 kW), mỗi chiếc vận hành một trục chân vịt. Khi lặn, mỗi trục được vận hành bởi một động cơ điện công suất 725 mã lực (541 kW). Khi di chuyển trên mặt nước nó đạt tốc độ tối đa 15,25 hải lý trên giờ (28,24 km/h; 17,55 mph) và 9 hải lý trên giờ (17 km/h; 10 mph) khi lặn dưới nước. Chúng có tầm xa hoạt động đến 8.000 hải lý (15.000 km; 9.200 mi) ở tốc độ 10 hải lý trên giờ (19 km/h; 12 mph).[1]
Zwaardvisch trang bị mười một ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm), gồm sáu ống bên trong và năm ống bên ngoài, với tám ống ra phía trước và ba ống còn lại hướng ra phía đuôi, và mang theo tổng cộng 17 quả ngư lôi. Vũ khí trên boong tàu là một khẩu hải pháo QF 4 inch (101,6 mm) Mk XII cùng ba khẩu súng máy .303-calibre cho mục đích phòng không.[1]
Chế tạo

Zwaardvisch được Hải quân Anh đặt hàng như là chiếc HMS Talent vào ngày 3 tháng 8, 1941 trong khuôn khổ Chương trình Chế tạo 1941, và được đặt lườn tại xưởng tàu của hãng Vickers-Armstrongs ở Barrow-in-Furness vào ngày 13 tháng 10, 1942. Tuy nhiên nó được chuyển giao cho Hà Lan vào ngày 23 tháng 3, 1943 trước khi được hạ thủy vào ngày 17 tháng 7, 1942,[3] và nhập biên chế cùng Hải quân Hoàng gia Hà Lan như là chiếc HNLMS Zwaardvisch (S814) vào ngày 23 tháng 11, 1943 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Thiếu tá Hải quân Hà Lan Hendrikus A. W. Gosseens.[4] Nó là chiếc tàu ngầm đầu tiên của Hải quân Hoàng gia Anh được đặt cái tên HMS Talent,[3] và cũng là chiếc tàu ngầm đầu tiên của Hải quân Hoàng gia Hà Lan được đặt cái tên HNLMS Zwaardvisch.[4]
Lịch sử hoạt động
1944
Chuyến tuần tra thứ nhất
Sau khi thực hành huấn luyện tại các vùng biển Anh và Scotland, Zwaardvisch xuất phát từ cảng Lerwick vào ngày 28 tháng 2, 1944 cho chuyến tuần tra đầu tiên trong chiến tranh. Nó đã hoạt động chống tàu ngầm tại khu vực biển Na Uy về phía Đông Bắc quần đảo Faroe và phía Tây Trondheim trước khi quay trở về Lerwick vào ngày 13 tháng 3.[4]
Chuyến tuần tra thứ hai
Zwaardvisch lại khởi hành từ Lerwick vào ngày 16 tháng 3 cho chuyến tuần tra thứ hai, và hoạt động trong vùng biển Na Uy về phía Bắc Lofoten để tìm cách ngăn chặn chiếc thiết giáp hạm Đức Tirpitz vốn có thể quay trở về Đức để sửa chữa. Chiếc tàu ngầm kết thúc chuyến tuần tra tại Lerwick vào ngày 24 tháng 3.[4]
Zwaardvisch khởi hành từ cảng Holy Loch vào ngày 16 tháng 5 để di chuyển sang Gibraltar do được điều động sang phục vụ tại Viễn Đông. Sau khi lần lượt đi ngang qua Malta, Port Said, kênh đào Suez, Aden và Colombo, nó đi đến Trincomalee, Ceylon (nay là Sri Lanka) vào ngày 29 tháng 7, nơi nó hoạt động trong biên chế Hạm đội Đông của Hải quân Hoàng gia Anh.[4]
1945

Zwaardvisch rời Fremantle vào ngày 14 tháng 6 cho hành trình quay trở về Anh để được đại tu và tái trang bị. Sau khi đã lần lượt ghé qua Aden, kênh đào Suez, Port Said và Gibraltar, nó về đến Dundee vào ngày 6 tháng 8. Chiếc tàu ngầm có chuyến đi sang Rotterdam vào đầu tháng 8, rôi quay trở lại Newcastle upon Tyne để được đại tu tại xưởng tàu của hãng Swan Hunter từ cuối tháng 8, 1945.[4][5]
Sau chiến tranh
Chiếc tàu ngầm tiếp tục phục vụ cùng Hải quân Hoàng gia Hà Lan trong giai đoạn Chiến tranh Lạnh, và từng có chuyến đi sang Tây Ấn thuộc Hà Lan vào năm 1947.[5] Nó được đổi tên thành HNLMS Zwaardvis vào năm 1950.[4]
Nó được cho xuất biên chế vào ngày 11 tháng 12, 1962, và bị bán để tháo dỡ vào ngày 12 tháng 7, 1963.[5][4]
Tóm tắt chiến công
Zwaardvisch đã đánh chìm được sáu tàu buôn có tổng tải trọng 203 GRT cùng một tàu chiến 1.144 tấn và một tàu chiến phụ trợ 1.970 GRT, đồng thời gây hư hại cho một tàu chiến phụ trợ khác tải trọng 1.608 GRT.[4]
| Ngày | Tên tàu | Quốc tịch | Tải trọng[Ghi chú 2] | Số phận |
|---|---|---|---|---|
| 18 tháng 8, 1944 | Kim Hup Soen | 48 | Bị đánh chìm | |
| 24 tháng 8, 1944 | Gan Hoa | 32 | Bị đánh chìm | |
| 6 tháng 10, 1944 | U-168 | 1.144 | Bị đánh chìm | |
| 10 tháng 10, 1944 | Koei Maru | 10 | Bị đánh chìm | |
| 15 tháng 10, 1944 | Kaiyō Maru số 2 | 143 | Bị đánh chìm | |
| 17 tháng 10, 1944 | Itsukushima | 1.970 | Bị đánh chìm | |
| 17 tháng 10, 1944 | Wakataka | 1.608 | Bị hư hại | |
| 25 tháng 4, 1945 | Namura | 40 | Bị đánh chìm | |
| 25 tháng 4, 1945 | Albania | 30 | Bị đánh chìm |
Xem thêm
Tham khảo
Ghi chú
- ↑ Zwaardvisch (tiếng Hà Lan): cá kiếm
- ↑ Tàu buôn theo tấn đăng ký toàn phần. Tàu quân sự theo trọng lượng choán nước.
Chú thích
- 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 Helgason, Guðmundur. "T class – Technical information". U-boat Types - uboat.net. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2026.
- ↑ Kemp (1990), tr. 22, 26.
- 1 2 Helgason, Guðmundur. "HMS Talent (i) (P322) – Submarine of the T Class". Allied Warships - uboat.net. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2025.
- 1 2 3 4 5 6 7 8 9 Helgason, Guðmundur. "HNMS Zwaardvisch (P 322) – Submarine of the T Class". Allied Warships - uboat.net. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2025.
- 1 2 3 "Dutch Submarines: Zwaardvis". dutchsubmarines.com. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2015.
Thư mục
- Akermann, Paul (2002). Encyclopaedia of British Submarines 1901–1955 . Penzance, Cornwall: Periscope Publishing. ISBN 1-904381-05-7.
- Bagnasco, Erminio (1977). Submarines of World War Two. Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 0-87021-962-6.
- Chesneau, Roger, biên tập (1980). Conway's All the World's Fighting Ships 1922–1946. Greenwich, UK: Conway Maritime Press. ISBN 0-85177-146-7.
- Colledge, J. J.; Warlow, Ben (1969). Ships of the Royal Navy: the complete record of all fighting ships of the Royal Navy (Rev. ed.). London: Chatham. ISBN 978-1-86176-281-8. OCLC 67375475.
- Hurst, Doug (2001). The Fourth Ally: The Dutch Forces in Australia in WWII. Chapman, Australian Capital Territory: D. Hurst. ISBN 9780957925205.
- Hutchinson, Robert (2001). Jane's Submarines: War Beneath the Waves from 1776 to the Present Day. London: HarperCollins. ISBN 978-0-00-710558-8. OCLC 53783010.
- Kemp, Paul J. (1990). The T-class Submarine: The Classic British Design. Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 1-55750-826-7. OCLC 22575300.
- McCartney, Innes (2006). British Submarines 1939–1945. New Vanguard. Quyển 129. Oxford, UK: Osprey. ISBN 1-84603-007-2.
- Rohwer, Jürgen (2005). Chronology of the War at Sea 1939–1945: The Naval History of World War Two . Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 1-59114-119-2.
Liên kết ngoài
- Helgason, Guðmundur. "T class – Technical information". U-boat Types - uboat.net. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2026.
- Helgason, Guðmundur. "HMS Talent (i) (P322) – Submarine of the T Class". Allied Warships - uboat.net. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2025.
- Helgason, Guðmundur. "HNMS Zwaardvisch (P 322) – Submarine of the T Class". Allied Warships - uboat.net. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2025.
- "Dutch Submarines: Zwaardvis". dutchsubmarines.com. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2015.
- Lớp tàu ngầm Anh T
- Tàu ngầm của Hải quân Hoàng gia Hà Lan trong Thế Chiến II
- Tàu ngầm của Hải quân Hoàng gia Hà Lan trong Chiến tranh Lạnh
- Tàu thủy năm 1943